(TT&VH Cuối tuần) - Bên cạnh 4 phim truyện nhựa Giải cứu thần chết, Huyền thoại bất tử, Chuyện tình xa xứ, Đẹp từng centimet đã công chiếu vào dịp Tết và sau Tết được xem là không có tiến bộ gì đặc biệt so với các bộ phim thương mại - giải trí tương tự của năm ngoái, 2 phim Trăng nơi đáy giếng (đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn, hãng phim Giải Phóng), Cú và chim se sẻ (đạo diễn Stephane Gauger, hãng phim Chánh Phương) chưa được ra mắt rộng rãi, có lẽ là 2 phim (truyện nhựa) đáng được chú ý nhất trong giải Cánh diều năm nay.

Điều thành công nhất của đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn trong Trăng nơi đáy giếng, theo người viết, là đã kể lại được nguyên tác văn học bằng hình ảnh một cách hết sức chậm rãi, đẹp mà buồn, không bi lụy sướt mướt, đặc trưng rất Huế. Như có chủ ý lấy cảnh tả người, những khuôn hình được chăm chút kỹ lưỡng từ từ làm cho người xem ngấm vào chất Huế ấy, và cứ thế dần dần đồng cảm với những nỗi buồn thương của câu chuyện. Tuy nhiên, các tác giả hơi quá sa đà vào ưu điểm này làm cho toàn bộ nội dung phim trở nên rề rà và có cảm giác bộ phim bị mất đi cân bằng, thừa cảnh thiếu người, nhiều hình ảnh và trường đoạn dài dòng, không cần thiết lắm trong khi nhân vật chính vẫn chưa được hình dung một cách trọn vẹn. Một trong những dấu ấn khá đắt của bộ phim là những cảnh Hạnh đóng mở các cánh cửa bức bàn ngôi nhà rường của vợ chồng chị, như một ẩn dụ về sự đóng mở thế giới tình yêu của riêng chị, tuy nhiên đến nhiều lần sau, việc cảnh này vẫn được lặp lại một cách đơn điệu và thiếu tiết chế đã làm giảm đi sự tinh tế và gợi cảm của hình ảnh ấy.

Một điểm yếu của bộ phim là thế giới tâm linh chưa được các nhà làm phim chú ý đầy đủ và sâu sắc, không khắc họa được vai trò cứu vớt và nâng đỡ đời sống tinh thần. Dường như việc xử lý các tình tiết tâm linh trong phim như thể một hình thức mê tín dị đoan trong các tác phẩm điện ảnh mang tính tuyên truyền khác làm mất đi quyền năng giải thoát của nó đối với nhân vật chính, và do đó ở một chừng mực nhất định, làm què cụt diễn biến tâm lý của Hạnh và hạn chế tính nhân văn của tác phẩm. Và cũng có thể do chưa hình dung hết mức độ quan trọng của điểm yếu này mà bộ phim có một cái kết muốn hiểu thế nào thì hiểu - hình ảnh Hạnh quét sân và góc nhìn mở ra khắp thành Nội thanh bình và tươi đẹp. Tôi ra về và thú nhận rằng chưa thể hình dung được ý đồ của các tác giả.
Ở một cảm giác khác, Cú và chim se sẻ là một câu chuyện được kể hết sức dễ hiểu, do Stephane Gauger - người Mỹ gốc Việt - viết kịch bản, đạo diễn và quay phim. Tác phẩm rất thành công trong việc thể hiện một đời sống đô thị hiện đại, bươn chải và gấp gáp của TP.HCM bằng một tiết tấu rất nhanh, và thêm vào đó là các cú lia máy chóng mặt bằng máy quay cầm tay như thể phim tài liệu, làm cho người xem bị cuốn vào câu chuyện đang mở ra trước mắt.
Tất nhiên, nếu xét trên bình diện phim quốc tế, câu chuyện và cách kể chuyện này là không mới, thậm chí đầy những cliché - khuôn mẫu, những tình tiết quen thuộc. Nhưng điều đáng chú ý ở đây là tác giả đã tìm được các nhân vật mà chúng ta có thể dễ dàng gặp trên phố, kể câu chuyện một cách thiết tha và nhân bản, lồng ghép hết sức tự nhiên trong đời sống thành phố, làm cho bộ phim có một tính chất hiện thực khá thuyết phục. Tuy nhiên phải thừa nhận rằng, tiết tấu quá nhanh và phong cách tài liệu còn xa lạ với khán giả Việt Nam (hình như đây là phim truyện Việt Nam đầu tiên làm theo kiểu này), và đôi chỗ thoại cũng như một số chi tiết hơi ngô nghê ngọng nghịu, vốn là nhược điểm của các tác giả Việt kiều, có thể làm người xem hơi khó chịu. Nhưng người viết tin rằng bộ phim sẽ chinh phục được khán giả bởi chính câu chuyện cảm động và cách kể chuyện chân thành của nó.
Không cầu kỳ tả cảnh, chỉ lấy sự ồn ào náo nhiệt làm nền, ngôn ngữ điện ảnh đơn giản, trực tiếp và thực tế, nhưng cũng có những chi tiết sáng tạo rất đắt, khắc họa được tâm lý nhân vật và diễn biến câu chuyện. Tôi đặc biệt thích các hình ảnh cặp búp bê của Thủy và các con thú đồ chơi của Hải. Bên cạnh những tình tiết khác, chúng làm cho sự gắn kết thân thiết tức thì giữa các nhân vật xa lạ trở nên hợp lý. Các nhân vật cũng được xây dựng một cách đầy đặn, mặc dù chỉ là những lát cắt cuộc sống trong vài ngày của họ, nhưng khá gợi mở và chi tiết, người xem có thể dễ dàng hình dung và liên hệ được.
Có lẽ một phần không nhỏ đóng góp cho thành công của Cú và chim se sẻ chính là dàn diễn viên được chọn rất hợp vai. Ngoài Lê Thế Lữ từng đóng Mùa len trâu của Nguyễn Võ Nghiêm Minh, hai gương mặt Cát Ly và Phạm Thị Hân xem như mới toanh. Dàn diễn viên diễn tự nhiên như thể nghiệp dư, nhưng rất tròn vai và ấn tượng, đặc biệt là Phạm Thị Hân, một phát hiện thú vị và người viết sẽ không ngạc nhiên nếu cô bé này được trao giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất năm nay! Đôi mắt to tròn, “biết nói” và diễn xuất tự nhiên, cùng với sự tươi mới của cô có ưu thế hơn hẳn Hồng Ánh, nếu như không nói nhân vật của cô thuyết phục hơn.
Tôi không muốn so sánh hai câu chuyện, hai phong cách khác nhau, hai cách thể hiện khác nhau, và rõ ràng hiệu quả thông điệp truyền đến người xem cũng khác nhau. Nhưng nếu được nói thẳng, và thật, thì ở Trăng nơi đáy giếng có thể thấy tâm huyết của những người làm phim trên từng cảnh quay cầu kỳ, nhưng không khỏi có cảm giác ôm đồm vốn có trong các phim truyện của chúng ta. Và khi đã không bị thuyết phục và đồng cảm được với mạch truyện chính, người xem cũng không thể nhìn nhận được các tầng nghĩa khác, nếu các tác giả muốn gửi gắm. Ngược lại, Cú và chim se sẻ lại như một câu chuyện ngụ ngôn đơn giản dễ hiểu, làm người xem xúc động và trân trọng tấm lòng của những người thực hiện. Nó đem đến niềm tin và hy vọng vào con người, và do đó có thể có một chiều sâu nhân văn và những giá trị nhân bản bền vững trong lòng công chúng.
Cô bạn tôi khi xem xong phim đã cho điểm vào phiếu đánh giá của người xem. Cô cho Trăng nơi đáy giếng điểm 6 trên 10, bảo tôi “về đọc truyện cho nhanh”, nhưng cho Cú và chim se sẻ hẳn 9 trên 10, bởi vì “không có gì hoàn hảo”. Đó chỉ là ý kiến của một cá nhân - một người xem bình thường thôi. Cũng như tôi vậy, một khán giả của điện ảnh Việt Nam.
Bảo Anh