Văn hoá

Tác giả "Ông Tây An Nam" trong ký ức của huyền thoại guitar Hải Thoại

17/12/2011 11:21 GMT+7 Google News

(TT&VH) - Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc có một người con trai nổi tiếng, đó là Hải Thoại, một huyền thoại guitar Việt Nam đã ra đi cách đây 2 năm (1936-2009), xem bài viết trên TT&VH ngày 7/4/2009 (http://thethaovanhoa.vn/297N2009040709113445T133/hai-thoai-huyen-thoai-guitar-vn-da-ra-di.htm).

Trong các cuộc tiếp xúc của tôi với anh Hải Thoại lúc sinh thời, tôi nhận thấy, trong ký ức anh, hình ảnh người cha đôn hậu mà anh rất ít được gần gũi vẫn luôn rõ nét, cho dù lúc anh lớn lên thì ông hầu như sống xa nhà.

1. Thời gian từ chiến khu trở về sống tại Hà Nội, thi thoảng Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc mới về với vợ con. Mỗi lần ông về, cả nhà như ngày hội, ông luôn khuyên nhủ các con cố gắng học hành để sau này có ích với nước, với dân.

Hải Thoại nhớ lại, lần nào cũng vậy, ở nhà vài ngày rồi lại ra đi, cha anh đều ngân ngấn nước mắt, và có điều kiện rảnh rỗi ông thường đón các con lên Hà Nội với ông. Mỗi khi Hải Thoại hỏi, mẹ anh - bà Võ Thiện Ngôn, đều trả lời qua quýt, sau này trưởng thành anh mới hiểu mẹ anh muốn giấu chuyện hoạt động cách mạng của cha anh.

Nghệ sĩ guitar Hải Thoại (đứng giữa) và các nghệ sĩ Văn Cao,
Nguyễn Xuân Sanh tại lễ truy điệu Nam Xương (1976)

Lần cuối cùng Hải Thoại được mẹ cử đi gặp cha là vào năm 1954, lúc đó Pháp buộc phải thả Nguyễn Cát Ngạc và một số đồng chí khác sau một thời gian giam giữ. Cậu con cả Hải Thoại được mẹ giao nhiệm vụ tìm về Phủ Lý (Hà Nam) đem ít quà bánh và chiếc áo len để cha mặc phòng khi trời rét. Đến nơi, Hải Thoại mới biết cha anh đã vào Nam. Khi đi, ông đưa theo người con trai Nguyễn Mạnh Đàm. Cũng từ ngày đó, bà Võ Thiện Ngôn cùng các con chỉ biết Nguyễn Cát Ngạc đang ở Sài Gòn, còn tại sao ông vào Nam, để lại vợ con ngoài Bắc thì chỉ có bà và cơ quan tình báo là biết rõ, nhưng vì tính chất bảo mật của công việc mà họ buộc phải im lặng.

2. Nhớ về người cha đã đi xa, ngày 27/7/1999, anh Hải Thoại đã viết một bài ngắn chỉ có 3 trang để nói về ba mình, xin trích một đoạn: “Cho đến hơi thở cuối cùng của ba (ba tôi từ trần tại Sài Gòn năm 1958, lúc mới 53 tuổi), ba tôi luôn cần mẫn làm việc bằng chuyên môn của mình - kỹ sư cầu đường. Nhưng có hai điều cuốn hút cha tôi từ khi còn học ở trường Bưởi, đó là say mê kịch nói và nghiên cứu chủ nghĩa Mác. Có một câu nói của Henri Bergson mà ba tôi rất thích, ông ghi lên ô kính của cái tủ sách đầy ắp những Racine, Corneille, Molière…, câu ấy là: Một dân tộc càng trí tuệ, càng biết yêu sân khấu.

Ba nói với tôi, lúc tôi độ 14 - 15 tuổi: “Ba rất mong về hưu, sống trong thanh thản và viết kịch”. Tôi nói: “Ba ơi, lúc ấy con sẽ chép lại kịch cho ba (tôi nói với ba như vậy).

Chữ tôi không đẹp, nhưng được cái cẩn thận. Tôi còn nhớ năm 1950, tôi theo ba lên Hà Nội để đi học. Tôi kì cạch tập đánh máy chữ để được chép bản thảo cho ba. Hồi đó kiếm được cái máy chữ có dấu quốc ngữ là rất khó, mọi người thường phải đánh máy không dấu. Nên tôi đánh máy, còn ba tôi chỉnh dấu. Còn về chủ nghĩa Mác, có lẽ trong điều kiện tạm chiếm ở Hà Nội những năm cuối 40 đầu 50, ba tôi chưa kiếm được một bộ sách hoàn hảo, ba tôi chỉ mua được một số cuốn và tài liệu bằng tiếng Pháp của nhà sách Hachette mà thôi... Được sống với ba quá ít, tính ra tất cả chỉ được gần 4 năm, thời kỳ tôi còn là học sinh cấp hai, chưa đủ trí tuệ để nhận định về cụ. Chỉ biết rằng mỗi khi nhớ đến cụ, tôi thấy xót xa vô cùng. Và kể từ khi cụ mất, trong tôi có một khoảng trống đến bây giờ vẫn không bù đắp được” (Hải Thoại - Hà Nội, ngày 27/7/1999).

Tình cảm của anh Hải Thoại, của các anh Định Thành, Quốc Dương, của chị Phương Hạnh là như vậy đó. Các anh chị nay đã trưởng thành nhưng không quên một tuổi thơ mà trong nhà luôn vắng bóng người cha thân yêu. Một lần được chứng kiến mái đầu bạc của các anh chị khi cùng nhau thắp hương đứng trước bàn thờ cha và tấm Bằng Tổ quốc ghi công, tôi đã không khỏi bồi hồi. Lại nghĩ, những mất mát như thế là khó tránh khỏi trong cuộc chiến tranh tàn khốc vừa qua và điều còn lại với người đang sống, không chỉ là nỗi xót thương, mà là cả niềm tự hào.

Tác phẩm của Nguyễn Cát Ngạc

- Sân khấu: ngoài hai tác phẩm được lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Hà Nội, là: Chàng Ngốc; Ông Tây An Nam, trong di cảo ông còn các kịch bản: Tây Thi - Phạm Lãi (bi kịch năm hồi tám cảnh), Văn Chủng (bi kịch năm hồi), Tội ăn cắp (kịch vui), Thuốc tê Ô Cấp (kịch vui). Ngoài ra, Nguyễn Cát Ngạc còn có hai kịch bản Nói khoác (hài kịch một hồi) và Đại gia văn sĩ (hài kịch năm hồi) hiện chưa tìm thấy.

- Truyện ngắn: Bụi phồn hoa (NXB Quê hương in tại Hà Nội năm 1950).

- Truyện dã sử:hai cuốn tiểu thuyết viết theo lối chương hồi là Bách Việt Hùng Vương (1950). Ngoài ra, di cảo của ông còn có các tác phẩm: Hoàng Trừu, Huyền Trân công chúa, Nguyễn Thị Lộ, Trên chòi Khâm Thiên.

- Ngoài ra, ông có bộ sách Sử ký Việt Nam (bút danh Nguyễn Trúc Thanh) có ba quyển, trình bày lịch sử dân tộc từ thời cổ đại đến năm 1765, bộ sách này “soạn theo chương trình Ban Trung học của Bộ Quốc gia Giáo dục”, đã được in tại NXB Liên hiệp ở Sài Gòn năm 1956.  

Nhà phê bình Nguyễn Hòa

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm