(TT&VH Cuối tuần) - Phụ nữ Mông Cổ khá xinh đẹp, chân dài như chân... ngựa, ngực phơi phới như ức ngựa, mắt đen mọng như mắt ngựa, mông căng tròn như mông ngựa. Những dòng phụ nữ như ngựa hoang này, nhìn thấy ta như chỉ chực đá ta một phát bay tít…
>> Loạt bài dài kỳ về hành trình khám phá Mông Cổ bằng "Cào cào"
Hồ Khovskhol: Không thể không tới
Du khách đến Mông Cổ không thể không lên Khovskhol, mặc dù nó nằm tít phía Bắc và đi lại khá vất vả. Hồ nằm sát biên giới Nga, là một trong 14 hồ nước ngọt lớn nhất thế giới. Từ đầu này đến đầu kia hồ khoảng 130 km, gần bằng từ Hà Nội đến Lạng Sơn. Hồ rộng hơn 2700 km2, chỉ kém toàn bộ Hà Nội bây giờ một chút!

Hồ Khovskhol
Khovskhol được coi là Thụy Sỹ của Mông Cổ. Mé trái của hồ là những rặng núi cao trên 3.000m, mùa Hè vẫn thấy tuyết phủ. Mé phải là những dãy núi thấp hơn, nơi có những những cánh rừng tai-ga bạt ngàn, những đàn sói hoang dã ban đêm vẫn tru lên những tiếng vọng gọi bầy, những cung đường chỉ có thể vượt qua bằng ngựa. Phía Bắc hồ, theo đường chim bay, phía Đông Bắc chừng hơn 100 km là tới hồ Baikan lớn nhất thế giới.
Mùa Đông, hồ đóng băng sâu tới hơn 1m, nối một tuyến đường bộ từ Nam tới Bắc hồ. Xe vận tải nặng vẫn đi trên những con đường này, cho tới khi toàn bộ khu vực trở thành khu bảo tồn thiên nhiên thì việc vận tải bằng xe qua mặt hồ đóng băng mới bị cấm. Vậy mà cũng có tới 40 xe đã bị thụt băng và chìm xuống đáy hồ. Xưa kia, chiến thuật di chuyển trên mặt hồ đóng băng cũng là một trong những chiến thuật thần tốc của các đạo quân Mông Cổ khi chinh phạt nước Nga xa xôi. Dưới cái rét giá ghê người, quân Nga ngủ đông trong những tòa thành ấm áp, trong khi đó, quân Mông Cổ tranh thủ lúc đường hồ đóng băng dễ đi, và với khả năng chịu đựng phi thường, họ rút ngắn quãng đường chuyển quân và thần tốc đánh chiếm các thành phố của Nga.
Người bạn Mông Cổ lạ kỳ
Một sự cố nhỏ nhưng có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đã xảy ra: một xe trong nhóm bị mất chìa khóa, không tài nào nổ máy được. Liên lạc với Ulanbator, họ yêu cầu tháo phần đầu xe ra, gửi máy bay (hàng ngày) về, họ sẽ làm chìa khóa và gửi lại lên! Tất cả chừng 3 ngày!
Thật may mắn, chúng tôi gặp được một người Mông Cổ lạ kỳ. Gaanbar đã từng học thạc sĩ ở Nhật, nhưng bỏ tất cả trở về quê hương sống bằng những nghề đơn giản như sửa chữa ô tô, cơ khí, tin học, dạy học, buôn bán lặt vặt tại gia. Lý do đơn giản chỉ vì anh không thể không sống ở quê, nơi có hồ Khovskhol xinh đẹp. Như rất nhiều người Mông Cổ khác, anh có thể làm tất cả mọi thứ. Chiếc chìa khóa được anh cắt từ một mảnh tôn thùng phuy, chỉ trong một đêm.
Cuộc sống du mục giữa thiên nhiên đã hun đúc cho con người ở đây một tính cách thật “Mông Cổ” như Gaanbar. Một người đàn ông trên thảo nguyên phải biết chăn ngựa, biết vắt sữa, biết săn sói, biết dựng lều, biết may áo, biết sửa xe, biết hát, biết nhảy. Tóm lại là biết tuốt tuồn tuột, thậm chí phải biết cả đỡ đẻ cho vợ. Còn phụ nữ biết làm bơ, phó mát, quản lý gia đình và khi cần, cũng phải cưỡi ngựa, lùa cừu, đuổi sói. Vì phải làm đủ thứ như vậy, trông phụ nữ ở đây luôn đầy sức sống.
Trái ngược với sự thô ráp của đàn ông, phụ nữ Mông Cổ khá xinh đẹp. Khi ở Việt Nam, ta thường tưởng tượng phụ nữ Mông Cổ mặt tròn xoe, da căng bóng, ửng hồng, mắt híp tịt, người thấp đậm. Cũng có nhiều người đúng hệt như vậy, nhưng phần lớn những cô gái Mông Cổ khác chân dài như chân... ngựa, ngực phơi phới như ức ngựa, tóc phất phơ như bờm ngựa, mắt đen mọng như mắt ngựa, mông căng tròn như mông ngựa. Những dòng phụ nữ như ngựa hoang này, nhìn thấy ta như chỉ chực chồm lên ta, đá ta một phát bay tít…

Ngựa và “cào cào” trên thảo nguyên
Và một bí ẩn không lời đáp
Cuối cùng thì chúng tôi cũng tới được Kharkhorin, phế đô của Thành Cát Tư Hãn. Những năm đầu khi chinh phục thiên hạ, Thành Cát Tư Hãn vẫn giữ nguyên nếp sống cũ, ngủ lều mà không xây dựng lâu đài thành quách. Về sau, khi mở mang bờ cõi, chiếm được những kinh thành to lớn ở phía Nam như Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay), kinh thành Bagda, người Mông Cổ mới quyết định xây dựng kinh đô ở Kharkhorin, nhưng thành Kharkhorin chỉ có khoảng 40 năm rực rỡ. 40 năm sau, khi Hốt Tất Liệt – cháu nội của Hãn quyết định dời đô về Yên Kinh, thành lập nên đế quốc Nguyên Mông, Kharkhorin trở nên hoang tàn, bị phá hủy bởi quân Mãn Châu vào thế kỷ 14, sau đó được xây dựng thành quần thể chùa thờ Phật vào thế kỷ 16 và còn lại như ngày nay. Thành cổ giờ đây không còn nhiều dấu tích.
Cùng thời kỳ xây dựng đế quốc Mông Cổ ở phương Bắc mà ranh giới phía Bắc hết nước Nga, ranh giới phía Đông tới Nhật Bản, phía Tây tới Hungary, Ba Lan, phía Trung Á tới tận Ai Cập, phía Tây Nam tới dãy Hymalaya, phía Nam tới Việt Nam, nhưng tại mảnh đất Mông Cổ hầu như không có một công trình kiến trúc khả dĩ nào. Trong khi đó, phía Nam, đế chế Khơ Me, cũng mở rộng đất đai của mình tới ngót 1 triệu cây số vuông, đã dồn hết sức người sức của, xây dựng nên một trong những kỳ quan của loài người mà ngày nay vẫn còn đem lại nhiều kinh ngạc, đó là Angkor.
Nằm về phía Đông Nam của kinh thành cổ là hai quả đồi thâm thấp, múp míp. Xe cào cào có thể phi một lèo lên đỉnh đồi để nhìn toàn cảnh thành cổ. Trên đỉnh đồi là một con rùa đá được dùng để trấn và bảo vệ kinh thành. Dù rằng trong văn hóa của người du mục không thấy có con rùa làm biểu tượng, nhưng có lẽ do ảnh hưởng từ văn minh Trung Hoa nên một thầy địa lý nào đó đã quyết yểm và trấn bằng rùa đá. Chả biết có phải vì lý do đó mà thành phố này chỉ phát triển được trong vỏn vẹn có 4 thập kỷ. Ngoài ra, cụ rùa đá kia dường như chưa trấn nổi một thế hiểm nữa. Dưới chân hai quả đồi này, một khe hẹp, trông rất mỹ miều và sexy, hướng thẳng vào tòa thành. Oa Khoát Đài, vị Hãn đã xây dựng kinh thành cổ, chắc trong một cơn bét nhè đã quyết đặt thành ở nơi đây, rồi một hôm chợt tỉnh mới nhìn thấy tòa thành của mình hứng trọn cái góc mũm mĩm gợi cảm kia. Hãn sai lâu la dựng một Linga đá, dài cỡ 3 gang, đường kính gang rưỡi, để trấn lại. Khác với những linga được thờ khắp nơi ở những vùng ảnh hưởng của Ấn giáo với ý nghĩa của sự sinh sôi nảy nở, nên được cách điệu hóa, trông đơn giản và nặng tính biểu trưng, thường được dựng đứng lên trời, cái Linga này trông rất phồn thực với đủ bộ “ấm chén”, nằm nghiêng như một khẩu pháo!
Chúng tôi đã hơi cợt nhả khi đến thăm di tích này. Tại đây, một thành viên sau khi mân mê, bình phẩm chán chê, bèn mua một con dao rất đẹp mà người bán cứ chắc như đinh đóng cột rằng được truyền từ đời Hãn lại!!!
Đường về băng băng trên con đường trải nhựa rộng rãi, phẳng lỳ từ thành cổ chạy về thủ đô, bỗng nghe đánh rầm. Chiếc cào cào phi thẳng xuống một rãnh lớn, tự dưng chặn ngang đường rồi bay thẳng lên trời, bật sang bờ bên kia, vật sang một bên. Cú ngã này là chuyện nhỏ với chuyến đi cào cào. Nhưng trời ơi là máu. Máu tóe ra từ khi nào, đọng thành vũng trong quần, những đồ y tế cấp cứu mang theo không đủ để cầm được máu lại, đành ngoan ngoãn vào bệnh viện cấp cứu. Nằm tơ hơ trên sàn chiếc xe tải thuê vội, gã lơ mơ thấy một nét sắc lạnh vụt qua không trung. Con dao, đúng rồi!
Sự bí ẩn của câu chuyện chính là ở chỗ con dao được mua ở khu Linga nọ, nay trở thành hung khí tạo ra vết thương vào đúng chỗ hiểm, dù con dao đã được gói ghém khá kỹ và cất sâu trong đáy balô. Có điều khi chiếc xe lao xuống hố, chiếc ba lô được buộc chắc chắn trên bình xăng trước đã tạo ra một cú xọc chí mạng. Ơn trời, vết thương này dường như chỉ là một đòn cảnh cáo nho nhỏ. Chỉ chệch chừng 1 cm sang bên, nó có thể cắt ngang động mạch đùi, và khi đó mới thật sự là rầy rà...
Câu chuyện bí ẩn cuối cùng mà chúng tôi có được trong chuyến đi là vậy. Nó phủ lên một lớp màn bí ẩn của chiều sâu văn hóa của đất nước này. Nhìn cánh đồng mênh mang kia, nhìn trời xanh vòi vọi kia, hình như trông vậy mà không phải vậy. Rõ ràng, trong cái xanh ngắt hiền hòa của cỏ cây, trong cái trong vắt của không gian rộng lớn, có một điều gì đó không thể lý giải nổi, không thể nắm bắt nổi và cũng không thể nhìn thấy nổi. Nhưng ta vẫn cảm thấy nó thật sự có xung quanh ta. Phải chăng, đó là cái thần khí của đất nước này, con người này. Cái thần khí mà nhờ đó, vó ngựa của họ trải dài trên một miền đất từ Tây sang Đông tới cả chục ngàn cây số, từ Bắc xuống Nam cũng tới năm ngàn, trải trên một miền đất mênh mang mà chưa từng đế quốc nào có được.
Những câu hỏi của chúng tôi khi mới đặt chân đến vùng đất này, dường như chưa có câu trả lời. Ở những nơi mà ta tưởng như đã nhìn thấy rõ ràng, thoắt cái lại thấy vô vàn bí ẩn. Ở những nơi mà ta tưởng mọi sự đơn giản, thoắt cái lại chuyển sang phức tạp. Có điều gì mà có lẽ ta không bao giờ có khả năng khám phá?
Dưới cánh bay của Miat, đồng cỏ Mông Cổ lại trải rộng trước mắt chúng tôi trong chuyến về, sự háo hức khám phá hình như vẫn còn nguyên vẹn như trước đây 2 tuần. Phải chăng Mông Cổ không phải là nơi mà chúng ta có thể đặt lên một câu trịch thượng của những tay lãng du, đến đây để khám phá và chinh phục?
>> Loạt bài dài kỳ về hành trình khám phá Mông Cổ bằng "Cào cào"
Hồ Khovskhol: Không thể không tới
Du khách đến Mông Cổ không thể không lên Khovskhol, mặc dù nó nằm tít phía Bắc và đi lại khá vất vả. Hồ nằm sát biên giới Nga, là một trong 14 hồ nước ngọt lớn nhất thế giới. Từ đầu này đến đầu kia hồ khoảng 130 km, gần bằng từ Hà Nội đến Lạng Sơn. Hồ rộng hơn 2700 km2, chỉ kém toàn bộ Hà Nội bây giờ một chút!

Hồ Khovskhol
Mùa Đông, hồ đóng băng sâu tới hơn 1m, nối một tuyến đường bộ từ Nam tới Bắc hồ. Xe vận tải nặng vẫn đi trên những con đường này, cho tới khi toàn bộ khu vực trở thành khu bảo tồn thiên nhiên thì việc vận tải bằng xe qua mặt hồ đóng băng mới bị cấm. Vậy mà cũng có tới 40 xe đã bị thụt băng và chìm xuống đáy hồ. Xưa kia, chiến thuật di chuyển trên mặt hồ đóng băng cũng là một trong những chiến thuật thần tốc của các đạo quân Mông Cổ khi chinh phạt nước Nga xa xôi. Dưới cái rét giá ghê người, quân Nga ngủ đông trong những tòa thành ấm áp, trong khi đó, quân Mông Cổ tranh thủ lúc đường hồ đóng băng dễ đi, và với khả năng chịu đựng phi thường, họ rút ngắn quãng đường chuyển quân và thần tốc đánh chiếm các thành phố của Nga.
Người bạn Mông Cổ lạ kỳ
Một sự cố nhỏ nhưng có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đã xảy ra: một xe trong nhóm bị mất chìa khóa, không tài nào nổ máy được. Liên lạc với Ulanbator, họ yêu cầu tháo phần đầu xe ra, gửi máy bay (hàng ngày) về, họ sẽ làm chìa khóa và gửi lại lên! Tất cả chừng 3 ngày!
Thật may mắn, chúng tôi gặp được một người Mông Cổ lạ kỳ. Gaanbar đã từng học thạc sĩ ở Nhật, nhưng bỏ tất cả trở về quê hương sống bằng những nghề đơn giản như sửa chữa ô tô, cơ khí, tin học, dạy học, buôn bán lặt vặt tại gia. Lý do đơn giản chỉ vì anh không thể không sống ở quê, nơi có hồ Khovskhol xinh đẹp. Như rất nhiều người Mông Cổ khác, anh có thể làm tất cả mọi thứ. Chiếc chìa khóa được anh cắt từ một mảnh tôn thùng phuy, chỉ trong một đêm.
Cuộc sống du mục giữa thiên nhiên đã hun đúc cho con người ở đây một tính cách thật “Mông Cổ” như Gaanbar. Một người đàn ông trên thảo nguyên phải biết chăn ngựa, biết vắt sữa, biết săn sói, biết dựng lều, biết may áo, biết sửa xe, biết hát, biết nhảy. Tóm lại là biết tuốt tuồn tuột, thậm chí phải biết cả đỡ đẻ cho vợ. Còn phụ nữ biết làm bơ, phó mát, quản lý gia đình và khi cần, cũng phải cưỡi ngựa, lùa cừu, đuổi sói. Vì phải làm đủ thứ như vậy, trông phụ nữ ở đây luôn đầy sức sống.
Trái ngược với sự thô ráp của đàn ông, phụ nữ Mông Cổ khá xinh đẹp. Khi ở Việt Nam, ta thường tưởng tượng phụ nữ Mông Cổ mặt tròn xoe, da căng bóng, ửng hồng, mắt híp tịt, người thấp đậm. Cũng có nhiều người đúng hệt như vậy, nhưng phần lớn những cô gái Mông Cổ khác chân dài như chân... ngựa, ngực phơi phới như ức ngựa, tóc phất phơ như bờm ngựa, mắt đen mọng như mắt ngựa, mông căng tròn như mông ngựa. Những dòng phụ nữ như ngựa hoang này, nhìn thấy ta như chỉ chực chồm lên ta, đá ta một phát bay tít…

Ngựa và “cào cào” trên thảo nguyên
Cuối cùng thì chúng tôi cũng tới được Kharkhorin, phế đô của Thành Cát Tư Hãn. Những năm đầu khi chinh phục thiên hạ, Thành Cát Tư Hãn vẫn giữ nguyên nếp sống cũ, ngủ lều mà không xây dựng lâu đài thành quách. Về sau, khi mở mang bờ cõi, chiếm được những kinh thành to lớn ở phía Nam như Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay), kinh thành Bagda, người Mông Cổ mới quyết định xây dựng kinh đô ở Kharkhorin, nhưng thành Kharkhorin chỉ có khoảng 40 năm rực rỡ. 40 năm sau, khi Hốt Tất Liệt – cháu nội của Hãn quyết định dời đô về Yên Kinh, thành lập nên đế quốc Nguyên Mông, Kharkhorin trở nên hoang tàn, bị phá hủy bởi quân Mãn Châu vào thế kỷ 14, sau đó được xây dựng thành quần thể chùa thờ Phật vào thế kỷ 16 và còn lại như ngày nay. Thành cổ giờ đây không còn nhiều dấu tích.
Cùng thời kỳ xây dựng đế quốc Mông Cổ ở phương Bắc mà ranh giới phía Bắc hết nước Nga, ranh giới phía Đông tới Nhật Bản, phía Tây tới Hungary, Ba Lan, phía Trung Á tới tận Ai Cập, phía Tây Nam tới dãy Hymalaya, phía Nam tới Việt Nam, nhưng tại mảnh đất Mông Cổ hầu như không có một công trình kiến trúc khả dĩ nào. Trong khi đó, phía Nam, đế chế Khơ Me, cũng mở rộng đất đai của mình tới ngót 1 triệu cây số vuông, đã dồn hết sức người sức của, xây dựng nên một trong những kỳ quan của loài người mà ngày nay vẫn còn đem lại nhiều kinh ngạc, đó là Angkor.
Nằm về phía Đông Nam của kinh thành cổ là hai quả đồi thâm thấp, múp míp. Xe cào cào có thể phi một lèo lên đỉnh đồi để nhìn toàn cảnh thành cổ. Trên đỉnh đồi là một con rùa đá được dùng để trấn và bảo vệ kinh thành. Dù rằng trong văn hóa của người du mục không thấy có con rùa làm biểu tượng, nhưng có lẽ do ảnh hưởng từ văn minh Trung Hoa nên một thầy địa lý nào đó đã quyết yểm và trấn bằng rùa đá. Chả biết có phải vì lý do đó mà thành phố này chỉ phát triển được trong vỏn vẹn có 4 thập kỷ. Ngoài ra, cụ rùa đá kia dường như chưa trấn nổi một thế hiểm nữa. Dưới chân hai quả đồi này, một khe hẹp, trông rất mỹ miều và sexy, hướng thẳng vào tòa thành. Oa Khoát Đài, vị Hãn đã xây dựng kinh thành cổ, chắc trong một cơn bét nhè đã quyết đặt thành ở nơi đây, rồi một hôm chợt tỉnh mới nhìn thấy tòa thành của mình hứng trọn cái góc mũm mĩm gợi cảm kia. Hãn sai lâu la dựng một Linga đá, dài cỡ 3 gang, đường kính gang rưỡi, để trấn lại. Khác với những linga được thờ khắp nơi ở những vùng ảnh hưởng của Ấn giáo với ý nghĩa của sự sinh sôi nảy nở, nên được cách điệu hóa, trông đơn giản và nặng tính biểu trưng, thường được dựng đứng lên trời, cái Linga này trông rất phồn thực với đủ bộ “ấm chén”, nằm nghiêng như một khẩu pháo!
Chúng tôi đã hơi cợt nhả khi đến thăm di tích này. Tại đây, một thành viên sau khi mân mê, bình phẩm chán chê, bèn mua một con dao rất đẹp mà người bán cứ chắc như đinh đóng cột rằng được truyền từ đời Hãn lại!!!
Đường về băng băng trên con đường trải nhựa rộng rãi, phẳng lỳ từ thành cổ chạy về thủ đô, bỗng nghe đánh rầm. Chiếc cào cào phi thẳng xuống một rãnh lớn, tự dưng chặn ngang đường rồi bay thẳng lên trời, bật sang bờ bên kia, vật sang một bên. Cú ngã này là chuyện nhỏ với chuyến đi cào cào. Nhưng trời ơi là máu. Máu tóe ra từ khi nào, đọng thành vũng trong quần, những đồ y tế cấp cứu mang theo không đủ để cầm được máu lại, đành ngoan ngoãn vào bệnh viện cấp cứu. Nằm tơ hơ trên sàn chiếc xe tải thuê vội, gã lơ mơ thấy một nét sắc lạnh vụt qua không trung. Con dao, đúng rồi!
Sự bí ẩn của câu chuyện chính là ở chỗ con dao được mua ở khu Linga nọ, nay trở thành hung khí tạo ra vết thương vào đúng chỗ hiểm, dù con dao đã được gói ghém khá kỹ và cất sâu trong đáy balô. Có điều khi chiếc xe lao xuống hố, chiếc ba lô được buộc chắc chắn trên bình xăng trước đã tạo ra một cú xọc chí mạng. Ơn trời, vết thương này dường như chỉ là một đòn cảnh cáo nho nhỏ. Chỉ chệch chừng 1 cm sang bên, nó có thể cắt ngang động mạch đùi, và khi đó mới thật sự là rầy rà...
Câu chuyện bí ẩn cuối cùng mà chúng tôi có được trong chuyến đi là vậy. Nó phủ lên một lớp màn bí ẩn của chiều sâu văn hóa của đất nước này. Nhìn cánh đồng mênh mang kia, nhìn trời xanh vòi vọi kia, hình như trông vậy mà không phải vậy. Rõ ràng, trong cái xanh ngắt hiền hòa của cỏ cây, trong cái trong vắt của không gian rộng lớn, có một điều gì đó không thể lý giải nổi, không thể nắm bắt nổi và cũng không thể nhìn thấy nổi. Nhưng ta vẫn cảm thấy nó thật sự có xung quanh ta. Phải chăng, đó là cái thần khí của đất nước này, con người này. Cái thần khí mà nhờ đó, vó ngựa của họ trải dài trên một miền đất từ Tây sang Đông tới cả chục ngàn cây số, từ Bắc xuống Nam cũng tới năm ngàn, trải trên một miền đất mênh mang mà chưa từng đế quốc nào có được.
Những câu hỏi của chúng tôi khi mới đặt chân đến vùng đất này, dường như chưa có câu trả lời. Ở những nơi mà ta tưởng như đã nhìn thấy rõ ràng, thoắt cái lại thấy vô vàn bí ẩn. Ở những nơi mà ta tưởng mọi sự đơn giản, thoắt cái lại chuyển sang phức tạp. Có điều gì mà có lẽ ta không bao giờ có khả năng khám phá?
Dưới cánh bay của Miat, đồng cỏ Mông Cổ lại trải rộng trước mắt chúng tôi trong chuyến về, sự háo hức khám phá hình như vẫn còn nguyên vẹn như trước đây 2 tuần. Phải chăng Mông Cổ không phải là nơi mà chúng ta có thể đặt lên một câu trịch thượng của những tay lãng du, đến đây để khám phá và chinh phục?
Nguyễn Vũ Tùng