Tại Nghị quyết số 26/2026/QH16 về Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2026 - 2030, Quốc hội quyết nghị phấn đấu tổng thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 16,4 triệu tỷ đồng; tỷ lệ huy động ngân sách nhà nước bình quân đạt 18% GDP, tỷ trọng thu nội địa bình quân khoảng 87 - 88% tổng thu ngân sách nhà nước, tỷ trọng thu ngân sách Trung ương đến năm 2030 chiếm khoảng 53 - 54% tổng thu ngân sách nhà nước.
Tổng chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 21,2 triệu tỷ đồng. Trong đó, bố trí chi đầu tư phát triển khoảng 8,51 triệu tỷ đồng (trong đó kế hoạch đầu tư công trung hạn là 8,22 triệu tỷ đồng, gồm: ngân sách Trung ương là 3,8 triệu tỷ đồng, ngân sách địa phương là 4,42 triệu tỷ đồng); các nhiệm vụ chi đầu tư phát triển khác của ngân sách Trung ương ngoài phạm vi kế hoạch đầu tư công trung hạn là 290 nghìn tỷ đồng.
Tỷ trọng chi đầu tư phát triển bình quân khoảng 40% tổng chi ngân sách nhà nước; tỷ trọng chi thường xuyên bình quân khoảng 51 - 52% tổng chi ngân sách nhà nước.
Bố trí chi trả nợ lãi đảm bảo thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ khi đến hạn.

Tổng chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 21,2 triệu tỷ đồng
Bố trí tối thiểu 3% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tăng dần theo yêu cầu phát triển; 20% tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo và dạy nghề.
Bố trí dự phòng ngân sách và dự phòng an ninh, an toàn tài chính quốc gia nhằm điều hành chủ động, linh hoạt, thích ứng với mọi tình huống, đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước.
Nghị quyết nêu rõ, tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước bình quân giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 5% GDP, bao gồm bội chi ngân sách Trung ương khoảng 4,4% GDP, bội chi ngân sách địa phương bình quân khoảng 0,6% GDP; xây dựng mức bội chi ngân sách nhà nước hằng năm theo nhu cầu, tiến độ giải ngân các nhiệm vụ đầu tư phát triển.
Nghị quyết xác định, bảo đảm an toàn nợ công với các chỉ tiêu trần và ngưỡng cảnh báo: Trần nợ công hằng năm không quá 60% GDP; ngưỡng cảnh báo là 50% GDP. Trần nợ Chính phủ hằng năm không quá 50% GDP; ngưỡng cảnh báo là 45% GDP. Trần nợ nước ngoài của quốc gia hằng năm không quá 50% GDP; ngưỡng cảnh báo là 45% GDP.
Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ (không bao gồm nghĩa vụ trả nợ đối với các khoản vay về cho vay lại) không quá 25% tổng thu ngân sách nhà nước. Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia (không bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc ngắn hạn dưới 12 tháng) không quá 25% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.
Nghĩa vụ trả nợ lãi trực tiếp của Chính phủ không quá 10% tổng thu ngân sách nhà nước.
Tổng mức vay của Chính phủ giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 6,497 triệu tỷ đồng; trong đó tổng mức vay của ngân sách Trung ương khoảng 6,327 triệu tỷ đồng. Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 3,2 triệu tỷ đồng. Trường hợp tăng trưởng kinh tế, lạm phát, tỷ giá, lãi suất biến động mạnh, Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định phương án điều chỉnh nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ.
Tổng mức vay của chính quyền địa phương giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 622 nghìn tỷ đồng. Nghĩa vụ trả nợ của chính quyền địa phương khoảng 47 nghìn tỷ đồng.
Hạn mức bảo lãnh Chính phủ giai đoạn 2026 - 2030 là 68,4 nghìn tỷ đồng. Trường hợp cần thiết phải điều chỉnh tăng hạn mức bảo lãnh để kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn cho các chương trình tín dụng chính sách và các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia nhưng không làm vượt trần, ngưỡng các chỉ tiêu an toàn nợ công, Chính phủ quyết định bảo đảm hiệu quả và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.