Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã thiết lập một mục tiêu mang tầm vóc lịch sử: chính thức hình thành mô hình "di sản dẫn dắt phát triển kinh tế".
Bước chuyển biến vĩ đại này chỉ thực sự chạm đích khi mỗi một đơn vị di sản đều xác định rõ ràng chủ thể pháp lý, sở hữu cơ chế định giá minh bạch, chứng minh được dòng tiền chảy về đúng cộng đồng sáng tạo, và được hậu thuẫn bởi một hệ thống pháp luật vững vàng.
Câu trả lời cho lộ trình kiến tạo nền kinh tế di sản được hệ thống hóa thành ba trụ cột hành động mang tính tương hỗ. Mỗi trụ cột đóng vai trò là một điều kiện tiên quyết. Mục tiêu xác định tại Nghị quyết 80 chỉ có con đường hiện thực hóa duy nhất khi cả ba cấu phần nền tảng dưới đây vận hành đồng bộ, quyết liệt:
Lấp đầy các khoảng trống pháp luật về sở hữu trí tuệ
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ ban hành ngày 10/12/2025 (chính thức có hiệu lực từ ngày 1/4/2026) đã mở ra một cánh cửa quan trọng khi lần đầu tiên quy định cơ chế tài sản hóa quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, đạo luật nền tảng ấy mới dừng lại ở bước khởi đầu. Nhằm đảm bảo khung pháp luật bao phủ trọn vẹn mọi đối tượng nhạy cảm trong nền kinh tế di sản, các nhà lập pháp cần tiến hành một đợt hoàn thiện tiếp theo với ba nội dung trọng tâm.
Ngay từ những ngày đầu năm mới Bính Ngọ năm 2026, các địa danh văn hóa tâm linh trên địa bàn tỉnh Hưng Yên thu hút lượng lớn người dân và du khách đến tham quan, chiêm bái. Theo thống kê, trong 9 ngày nghỉ Tết, tỉnh đã đón gần 1 triệu lượt khách, tăng gần 87% so với kỳ nghỉ Tết 2025, đây là tín hiệu lạc quan cho kinh tế di sản của địa phương. Ảnh: Đinh Văn Nhiều-TTXVN
Nhiệm vụ cấp bách nhất là thiết lập khung pháp lý chi tiết phục vụ công tác quản lý việc sử dụng tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian. Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành đã thiết lập nguyên tắc bảo hộ cơ bản, công nhận nhóm tác phẩm này là sáng tạo tập thể của cộng đồng dân cư. Điểm nghẽn nằm ở chỗ, điều khoản này tiếp tục để ngỏ phần lớn các câu hỏi vận hành mang tính sống còn trên thực tế. Nước ta khẩn thiết cần một đạo luật sửa đổi hoặc một nghị định hướng dẫn chi tiết nhằm giải quyết triệt để các vướng mắc căn bản.
Bước đi đầu tiên là việc xác lập minh bạch chủ thể quyền. Hệ thống pháp luật cần chính thức công nhận cộng đồng kế thừa là chủ thể quyền tập thể, đi kèm với một cơ chế đại diện pháp lý cụ thể (thông qua các tổ chức cộng đồng được nhà nước cấp tư cách pháp nhân hoặc thông qua chính quyền địa phương).
Đưa hát bội đến với học đường là một trong những nỗ lực làm sống dậy di sản tại TP.HCM. Bằng việc khơi thông các nguồn lực thể chế, đánh thức tiềm năng kinh tế di sản và chú trọng xây dựng đội ngũ nhân lực hạt nhân, Thành phố Hồ Chí Minh đang nỗ lực biến các giá trị văn hóa thành sức mạnh nội sinh bứt phá, khẳng định vị thế trung tâm văn hóa năng động, hiện đại và nghĩa tình trong lòng dòng chảy văn minh nhân loại. Ảnh: Hữu Duyên - TTXVN
Tiếp theo, cơ quan quản lý cần thiết kế quy trình xin phép rõ ràng dành cho các tổ chức, cá nhân mang tham vọng khai thác thương mại, đi kèm các mốc thời gian xử lý hồ sơ, hệ thống mẫu hợp đồng chuẩn mực và nguyên tắc xác định mức phí bản quyền.
Kế đến, cơ chế chia sẻ lợi ích tài chính bắt buộc phải được luật hóa. Nguồn thu cần được phân bổ theo tỷ lệ nghiêm ngặt: dành cho cộng đồng kế thừa, thiết lập quỹ bảo tồn di sản, và hỗ trợ trực tiếp lực lượng nghệ nhân. Cuối cùng, hệ thống tư pháp cần xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp thiết kế riêng cho các vụ việc xâm phạm quyền cộng đồng, trang bị quy trình tố tụng phù hợp với đặc thù chủ thể tập thể.
Song song với đó, khung pháp lý cần đưa ra quy chế về quyền cộng đồng và chia sẻ lợi ích đối với tri thức truyền thống. Dù nền lập pháp Việt Nam đã ghi nhận bước đi tiên phong về yêu cầu công bố nguồn gốc nguồn gen và tri thức truyền thống trong đơn đăng ký sáng chế, thị trường vẫn thiếu vắng cơ chế xác lập tư cách chủ thể và phương thức chia sẻ lợi ích kinh tế.
An Giang có 29 dân tộc cùng sinh sống với nhiều di sản văn hoá, di tích lịch sử và các lễ hội truyền thống đặc sắc của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Những năm qua, tỉnh luôn quan tâm và tăng cường công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá đặc sắc của các dân tộc gắn với phát triển du lịch và sinh kế cộng đồng, góp phần nâng cao nhận thức về kinh tế di sản, công nghiệp văn hóa. Ảnh: Công Mạo - TTXVN
Việc lấp đầy khoảng trống này sẽ tạo ra tấm khiên pháp lý toàn diện, giúp các bài thuốc cổ truyền, kỹ thuật canh tác bản địa chuyển hóa thành tài sản kinh tế đích thực, mang lại dòng tiền thực tế cho các cộng đồng đã bao đời gìn giữ.
Nội dung trọng tâm cuối cùng nằm ở việc kiến tạo khung pháp lý chuyên biệt quản lý quyền khai thác thương mại di sản vật thể và xác lập chủ quyền văn hóa số. Quá trình xây dựng hai vùng pháp lý mới mẻ này cần được tiếp cận thận trọng, học hỏi kinh nghiệm quốc tế và bám sát điều kiện trong nước. Đối với di sản vật thể, cơ quan lập pháp cần nghiên cứu cơ chế cấp phép sử dụng hình ảnh di sản thuộc sở hữu nhà nước cho mục đích thương mại nhằm tạo nguồn thu tái đầu tư bảo tồn.
Đối với chủ quyền văn hóa số, chúng ta cần ban hành ngay lập tức những quy định tiên liệu về bảo vệ dữ liệu di sản đã số hoá trước các hành vi khai thác xuyên biên giới, đặc biệt trong bối cảnh các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) tạo sinh đang liên tục được huấn luyện trên khối lượng dữ liệu văn hóa khổng lồ.
Tour đêm Văn Miếu – Quốc Tử Giám đang mở ra một cách tiếp cận mới với di sản khi kết hợp hài hòa giữa giá trị truyền thống và công nghệ số hiện đại... Ảnh: Phạm Tuấn Anh - TTXVN
Nâng cao nhận thức của ba nhóm chủ thể trung tâm
Hoàn thiện pháp luật thuần túy chỉ tạo ra những văn bản quy phạm nằm yên trên mặt giấy. Tính hiệu lực của luật pháp trong đời sống thực tế phụ thuộc hoàn toàn vào lăng kính nhận thức của ba nhóm chủ thể cốt lõi.
Nhóm thứ nhất, chịu nhiều thiệt thòi nhất trong các diễn ngôn pháp lý nhưng lại sắm vai trò chủ thể trung tâm, chính là các cộng đồng di sản (nghệ nhân dân gian, làng nghề truyền thống, đồng bào dân tộc thiểu số).
Do rào cản thông tin, họ thường thiếu vắng nhận thức về việc hệ thống di sản mình đang gìn giữ thực chất là một loại tài sản trí tuệ có giá trị kinh tế và được pháp luật bảo hộ. Nhà nước cần thiết kế các chương trình đào tạo bản quyền cơ bản, ưu tiên triển khai bằng ngôn ngữ địa phương thông qua các tổ chức cơ sở, dưới sự phối hợp chặt chẽ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp tỉnh.
Thành phố Huế đang định vị lại chiến lược phát triển cho di sản: trao vai trò trung tâm cho cộng đồng, để người dân thực sự trở thành chủ thể của di sản – người giữ gìn, sáng tạo và trực tiếp hưởng lợi từ giá trị văn hóa quê hương. Ảnh: Mai Trang - TTXVN
Nhóm thứ hai, đứng ở chiều ngược lại của quan hệ khai thác, là các doanh nghiệp sáng tạo và nhà đầu tư công nghiệp văn hóa (thời trang, điện ảnh, âm nhạc, ẩm thực, du lịch, game…). Đứng ở vị thế khai thác, nhóm này cần thấu hiểu một nguyên tắc tối thượng: việc sử dụng chất liệu di sản mang lại vô vàn cơ hội kinh tế, song hành cùng nghĩa vụ pháp lý và đạo đức bắt buộc về việc xin phép, ghi nhận nguồn gốc và chia sẻ lợi ích thương mại. Chiến dịch phổ biến nhận thức cho doanh nghiệp cần được triển khai mạnh mẽ thông qua các hiệp hội ngành nghề, VCCI và các chương trình tập huấn chuyên đề.
Nhóm thứ ba, bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương. Lực lượng cán bộ văn hóa cấp tỉnh và cấp xã thường bộc lộ những khoảng hụt về kiến thức sở hữu trí tuệ bài bản, trong khi họ là đầu mối đầu tiên tiếp nhận vướng mắc từ cộng đồng và doanh nghiệp. Chính phủ cần phân bổ ngân sách cho các chương trình bồi dưỡng chuyên sâu định kỳ, áp dụng hệ thống chứng chỉ chuyên môn gắn liền với ngạch bậc thăng tiến cho đội ngũ này.
Trưng bày tinh hoa làng nghề truyền thống từ Hoa Lư – Ninh Bình, Thăng Long – Hà Nội, Huế và Tây Nguyên", trong khuôn khổ Festival Thăng Long - Hà Nội 2025 diễn ra từ 1-16/11/2025
Thiết lập năng lực thực thi quyền sở hữu trí tuệ chuyên nghiệp
Trụ cột cuối cùng mang tính chất quyết định sự vận hành thực chất của toàn bộ hệ thống. Một khung pháp luật đầy đủ cùng nền tảng nhận thức sâu rộng vẫn trở nên vô nghĩa nếu năng lực thực thi không tương xứng. Trụ cột này đòi hỏi được bồi đắp theo bốn nội dung mang tính kỹ thuật cao.
Về năng lực xét xử, hệ thống tòa án cần được trang bị khối lượng kiến thức chuyên ngành để phân xử các tranh chấp phức tạp. Tranh chấp về văn hóa dân gian mang đặc thù pháp lý khác biệt hoàn toàn so với sở hữu trí tuệ thương mại thông thường do chủ thể quyền mang tính tập thể, kéo theo yêu cầu thu thập bằng chứng cực kỳ phức tạp. Ngành tư pháp cần khẩn trương triển khai các chương trình đào tạo chuyên sâu dành cho đội ngũ thẩm phán và kiểm sát viên.
Trình diễn hô hát bài chòi để phục vụ người dân và du khách tại công viên bờ Đông cầu Rồng (Đà Nẵng). Các hoạt động này đã góp phần gìn giữ và phát huy các giá trị nghệ thuật Bài Chòi đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2017. Ảnh: Trần Lê Lâm – TTXVN
Về năng lực đại diện tập thể, Việt Nam cần gấp rút xây dựng hệ thống tổ chức đại diện hợp pháp cho các cộng đồng chủ thể di sản. Các tổ chức quản lý tập thể hiện tại chủ yếu phục vụ tác giả cá nhân độc lập. Cơ quan quản lý cần nghiên cứu cấp phép cho các tổ chức đại diện chuyên biệt, vận hành theo mô hình hợp tác xã văn hóa hoặc quỹ tín thác di sản công tư phối hợp. Đây là mắt xích sống còn để biến những đặc quyền trên giấy tờ thành dòng tiền thiết thực.
Về năng lực định giá tài sản trí tuệ, luật sửa đổi năm 2025 đã mở đường cho việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn và thế chấp vay vốn. Tuy nhiên, điều khoản đột phá này chỉ vận hành trơn tru khi thị trường sở hữu một đội ngũ chuyên gia định giá đủ năng lực chuyên môn và được pháp luật công nhận. Ngành giáo dục cần đầu tư quyết liệt vào các chương trình đào tạo sau đại học chuyên sâu về định giá tài sản vô hình gốc văn hóa, song hành cùng việc thiết lập bộ tiêu chuẩn định giá quốc gia.
Chương trình “Gấm Vóc Hoa Lư”, nhằm lan tỏa hình ảnh cổ phục Việt Nam tới đông đảo nhân dân và du khách. Đây là show trình diễn cổ phục quy mô lớn tại Ninh Bình với sự tham gia của những nhà nghiên cứu và chế tác cổ phục chuyên nghiệp. Ảnh: Thùy Dung - TTXVN
Về năng lực phối hợp liên ngành, Việt Nam cần thiết lập cơ chế phản ứng nhanh gọn đối với các vi phạm tinh vi trên nền tảng số xuyên biên giới. Sự phân tán đầu mối quản lý hiện nay gây ra nhiều rào cản.
Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam (quy định tại Mục IV.1 của Nghị quyết 80) cung cấp một thể chế vô cùng thuận lợi. Đây chính là đầu mối điều phối quốc gia lý tưởng, sở hữu thẩm quyền đủ rộng để huy động các cơ quan chuyên môn và đưa ra phản ứng tức thời trong môi trường số hóa.
Cần ban hành ngay lập tức những quy định tiên liệu về bảo vệ dữ liệu di sản đã số hoá trước các hành vi khai thác xuyên biên giới, đặc biệt trong bối cảnh các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) tạo sinh đang liên tục được huấn luyện trên khối lượng dữ liệu văn hóa khổng lồ.
Ba trụ cột hành động trên cấu thành ba mắt xích hữu cơ của cùng một chiến lược quốc gia. Sở hữu trí tuệ trong địa hạt di sản hoàn toàn vượt khỏi ranh giới của một vùng trũng kỹ thuật pháp lý chật hẹp. Đây chính là điều kiện tiên quyết mang tính sinh tử, quyết định sự thành bại của mục tiêu 7% GDP vào năm 2030 và 9% GDP vào năm 2045.
Việt Nam sở hữu một kho tàng di sản đồ sộ, nhưng làm thế nào để biến "niềm tự hào" thành "tài sản", biến "quá khứ" thành "nguồn lực nội sinh" kiến tạo tương lai theo đúng tinh thần Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị? Câu trả lời nằm ở một công cụ cần phát huy thế mạnh của nó: Sở hữu trí tuệ.
Khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ 2025 có hiệu lực, khung pháp luật Việt Nam về cơ bản đã tiệm cận các chuẩn mực quốc tế và đã có những bước chuyển mang tính đột phá về tư duy.
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã mở ra tầm nhìn chiến lược khi khẳng định vai trò của di sản văn hóa trong phát triển kinh tế, với mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa đóng góp tới 7% GDP vào năm 2030 và 9% GDP vào năm 2045, đồng thời hình thành mô hình "di sản dẫn dắt phát triển kinh tế" tại các khu di sản thế giới và một số đô thị di sản.
Đăng nhập
Họ và tên
Mật khẩu
Xác nhận mật khẩu
Mã xác nhận
Đăng ký
Xin chào, !
Bạn đã đăng nhập với email:
Đăng xuất