Khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ 2025 có hiệu lực, khung pháp luật Việt Nam về cơ bản đã tiệm cận các chuẩn mực quốc tế và đã có những bước chuyển mang tính đột phá về tư duy.
Nhưng khi đặt khung pháp luật ấy bên cạnh mục tiêu hình thành mô hình "di sản dẫn dắt phát triển kinh tế" tại các khu di sản thế giới và một số đô thị di sản, câu hỏi đặt ra là liệu hệ thống sở hữu trí tuệ hiện hành đã điều chỉnh đủ đối tượng di sản hay chưa, và những vùng nào còn để ngỏ.
Luật Di sản văn hóa phân chia di sản thành ba nhóm lớn gồm di sản văn hoá phi vật thể, di sản văn hoá vật thể, và di sản tư liệu, và mỗi nhóm đều chứa đựng những tài sản trí tuệ tiềm tàng cần được nhận diện, định danh và bảo hộ nếu mô hình "di sản dẫn dắt phát triển kinh tế" muốn vận hành trên thực tế.
Di sản văn hoá phi vật thể, đối tượng còn nhiều vùng trống pháp lý về sở hữu trí tuệ
Di sản văn hoá phi vật thể theo Luật Di sản văn hóa bao gồm sáu loại hình cụ thể là biểu đạt và truyền thống truyền khẩu; nghệ thuật trình diễn dân gian; tập quán xã hội và tín ngưỡng; lễ hội truyền thống; tri thức dân gian; và nghề thủ công truyền thống.
Đây là nhóm di sản có tiềm năng kinh tế to lớn nhất trong mô hình "di sản dẫn dắt phát triển kinh tế", bởi mỗi loại hình trong nhóm này đều có khả năng trở thành nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp văn hoá, từ điện ảnh, âm nhạc, thời trang, trò chơi điện tử đến ẩm thực, du lịch trải nghiệm và nội dung số. Nhưng đây cũng là nhóm có cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ còn nhiều khoảng trống nhất, và các khoảng trống ấy phân bố không đều giữa các loại hình.
Vở diễn “Anh hùng cờ lau” tái hiện sinh động hành trình từ cậu bé lấy cờ lau tập trận đến thời khắc Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, mở ra triều đại Đại Cồ Việt – dấu mốc của thời kỳ độc lập đầu tiên trong lịch sử dân tộc
Đối với biểu đạt và truyền thống truyền khẩu cùng với nghệ thuật trình diễn dân gian, đây là hai loại hình nằm trọn trong phạm vi điều chỉnh của Luật Sở hữu trí tuệ về tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian. Các làn điệu dân ca, các vở chèo, tuồng, cải lương truyền thống, các truyện kể và truyền thuyết dân gian đều là các sáng tạo tập thể của cộng đồng dân cư được Luật Sở hữu trí tuệ thừa nhận và bảo hộ. Luật Di sản văn hóa đã tiến thêm một bước quan trọng khi định danh cộng đồng là chủ thể có quyền đối với di sản phi vật thể mà họ đang gìn giữ, ghi nhận rằng di sản văn hóa phi vật thể, bí quyết và kỹ năng thực hành di sản văn hóa phi vật thể là do cộng đồng, nhóm người sáng tạo, kế thừa, nắm giữ, thực hành và trao truyền. Luật cũng quy định quyền của cộng đồng đối với di sản văn hóa bao gồm quyền sở hữu hợp pháp, quyền được thừa nhận và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quyền khai thác, sử dụng và phát huy giá trị di sản văn hóa, cũng như quyền kinh doanh, thực hành, truyền dạy di sản văn hóa.
Tuy nhiên, khi đặt cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, có thể nhận ra một khoảng trống phối hợp giữa hai luật. Luật Di sản văn hóa ghi nhận cộng đồng có quyền được thừa nhận và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, nhưng bản thân luật này lại không quy định về việc xác lập các quyền sở hữu trí tuệ cụ thể mà dẫn chiếu sang pháp luật sở hữu trí tuệ để điều chỉnh. Trong khi đó, Luật Sở hữu trí tuệ lại là vùng còn để ngỏ nhiều câu hỏi vận hành căn bản về chủ thể quyền cụ thể, về thủ tục xin phép, về cơ chế thu phí và phân phối lợi ích. Kết quả là một tình trạng pháp lý đặc biệt trong đó quyền của cộng đồng đã được ghi nhận trên Luật Di sản văn hóa, nhưng lại chưa có đường dẫn vận hành rõ ràng trên pháp luật sở hữu trí tuệ. Khoảng trống phối hợp này chính là điểm then chốt mà bất kỳ kế hoạch hoàn thiện pháp luật nào trong giai đoạn tới cũng cần lưu tâm, bởi lẽ "di sản dẫn dắt phát triển kinh tế" chỉ vận hành được khi hai đạo luật nền tảng này được khớp nối với nhau theo một cách có hệ thống.
Tác phẩm “Anh hùng cờ lau” kết hợp hài hòa giữa xiếc, múa, võ thuật cùng hệ thống âm thanh, ánh sáng và hoạt cảnh quy mô lớn, tạo nên không gian trình diễn giàu cảm xúc và sức cuốn hút
Đối với tri thức dân gian, bao gồm các bài thuốc cổ truyền, kỹ thuật canh tác bản địa, tri thức về cây thuốc và dược liệu, các phương pháp chế biến thực phẩm truyền thống và những hiểu biết về tự nhiên đã được tích luỹ trong cộng đồng qua nhiều thế hệ, hệ thống sở hữu trí tuệ hiện hành đã có một bước đi đáng ghi nhận. Pháp luật Việt Nam đã quy định nghĩa vụ công bố nguồn gốc nguồn gen và tri thức truyền thống đối với các đơn đăng ký sáng chế có liên quan, đặt Việt Nam vào nhóm các quốc gia Đông Nam Á đi trước trong việc thể chế hoá nguyên tắc công bố nguồn gốc, một bước đi cho thấy tư duy lập pháp chủ động và phù hợp với xu hướng bảo vệ tri thức truyền thống trên phạm vi toàn cầu.
Trong bối cảnh các ngành mỹ phẩm, dược phẩm, thực phẩm chức năng và công nghệ sinh học toàn cầu ngày càng tìm kiếm các nguồn gen và tri thức bản địa làm nguyên liệu cho các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, nhóm tri thức dân gian có tiềm năng kinh tế lớn nhưng cũng dễ bị tổn thương nhất trước các hành vi khai thác không ghi nhận nguồn gốc.
Nhưng quy định về công bố nguồn gốc chỉ là mới chỉ là định danh, phần còn lại là cơ chế xác lập chủ thể quyền cộng đồng đối với tri thức truyền thống, cùng với cơ chế xin phép, thu phí và phân phối lợi ích khi các tri thức ấy được khai thác thương mại. Công bố nguồn gốc giúp ngăn ngừa hành vi chiếm dụng, nhưng không tạo ra dòng tiền thực sự về cho cộng đồng chủ thể. Để tri thức dân gian thực sự trở thành động lực kinh tế cho các cộng đồng đã gìn giữ và trao truyền nó, cần phải có một cấu phần pháp lý về quyền cộng đồng và cơ chế chia sẻ lợi ích, và đây là phần mà pháp luật cần tiếp tục hoàn thiện.
Không chỉ kể lại câu chuyện dẹp loạn, thống nhất non sông, những show diễn như “Anh hùng cờ lau” còn góp phần cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 80 thông qua việc phát huy giá trị lịch sử, văn hóa trong phát triển sản phẩm du lịch đặc thù
Đối với nghề thủ công truyền thống, hệ thống sở hữu trí tuệ hiện hành cung cấp một bộ công cụ tương đối phong phú hơn so với các loại hình phi vật thể khác. Các sản phẩm thủ công có thể được bảo hộ bằng kiểu dáng công nghiệp đối với hình dáng bên ngoài của sản phẩm, bằng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận đối với tên gọi và biểu tượng của các làng nghề, và bằng chỉ dẫn địa lý khi sản phẩm gắn liền với một vùng địa lý cụ thể mà danh tiếng và chất lượng của nó bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và tri thức bản địa của vùng đất ấy.
Đây là nhóm có khung pháp lý hoàn chỉnh nhất và cũng là nhóm đã có những thành tựu thực tế đáng ghi nhận. Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) đã thiết lập cơ chế công nhận lẫn nhau đối với chỉ dẫn địa lý, theo đó 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam được Liên minh châu Âu tự động công nhận và bảo hộ tại toàn bộ 27 quốc gia thành viên mà không cần phải đăng ký riêng tại từng nước, bao gồm các sản vật mang đậm bản sắc vùng miền như nước mắm Phú Quốc, chè Shan Tuyết Mộc Châu, cà phê Buôn Ma Thuột, vải thiều Thanh Hà, thanh long Bình Thuận, và nhiều đặc sản khác trải rộng khắp các vùng địa lý và các hệ sinh thái văn hoá của Việt Nam. Chỉ dẫn địa lý được công nhận tại một thị trường có chuẩn mực bảo hộ chỉ dẫn địa lý vào hàng cao nhất thế giới là một bằng chứng có tầm vóc về việc pháp luật Việt Nam trong vùng này đã đạt được mức độ tiệm cận các chuẩn mực châu Âu, một thực tế không phải quốc gia đang phát triển nào cũng đạt được.
Từng chỉ dẫn địa lý trong danh mục được bảo hộ tại châu Âu không chỉ là một tên gọi thương mại mà còn là một dạng bảo hộ gián tiếp cho tri thức truyền thống của cộng đồng đã sáng tạo ra sản vật. Khi nước mắm Phú Quốc được bảo hộ, thứ được bảo vệ không đơn thuần là một cái tên mà còn là cả một tổ hợp tri thức về việc chọn cá cơm, về tỷ lệ muối, về kỹ thuật ủ chượp đã được tích luỹ qua nhiều thế hệ ngư dân trên đảo. Khi chè Shan Tuyết Mộc Châu được bảo hộ, thứ được bảo vệ là tri thức về giống chè cổ thụ, kỹ thuật hái búp, quy trình sao sấy đã trở thành di sản của cộng đồng dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc. Chỉ dẫn địa lý, vì vậy, không phải chỉ là một công cụ bảo hộ thương mại mà còn là một công cụ bảo hộ tri thức truyền thống được thể hiện dưới dạng đặc sản gắn với vùng miền, một hình thức bảo hộ tri thức truyền thống có tính khả thi cao.
Chương trình “Dòng chảy bản sắc - Hành trình sáng tạo năm 2026” tại Văn Miếu Quốc Tử Giám với nhiều hoạt động: Giới thiệu hai dòng tranh dân gian Hàng Trống và Kim Hoàng cùng các hoạt động trải nghiệm
Khoảng trống của loại hình nghề thủ công truyền thống, vì vậy, không nằm ở khung pháp luật mà nằm ở năng lực đăng ký bảo hộ chủ động tại các thị trường nước ngoài. Lịch sử đã cho thấy nhiều bài học khi các chỉ dẫn địa lý và tên gọi sản phẩm có uy tín của Việt Nam bị doanh nghiệp nước ngoài đăng ký trước tại các thị trường lớn theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, buộc phía Việt Nam phải mất nhiều năm và nhiều chi phí để đòi lại.
Vì vậy ở nhóm này việc cấp thiết không phải là hoàn thiện pháp luật, mà là xây dựng một chương trình quốc gia có hệ thống về đăng ký bảo hộ chủ động các tài sản trí tuệ có nguồn gốc di sản tại các thị trường chiến lược, cả cho nhóm sản phẩm đã có chỉ dẫn địa lý lẫn cho các thương hiệu làng nghề đang hình thành.
Còn đối với tập quán xã hội, tín ngưỡng và lễ hội truyền thống, đây là hai loại hình có vị trí đặc biệt trong hệ thống di sản phi vật thể bởi chúng vừa là biểu đạt văn hoá vừa là không gian thực hành cộng đồng. Bản thân một nghi lễ hay một lễ hội truyền thống khó có thể trở thành đối tượng bảo hộ sở hữu trí tuệ theo nghĩa trực tiếp, bởi chúng là các thực hành cộng đồng sống động và không có hình thức cố định.
Lễ hội kén rể Đường Yên, xã Thư Lâm (thành phố Hà Nội), đã chính thức được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Tuy nhiên, các yếu tố cấu thành nên lễ hội và tập quán tín ngưỡng lại chứa đựng nhiều tài sản trí tuệ có thể nhận diện và bảo hộ được. Âm nhạc, ca từ, vũ điệu trong lễ hội có thể được bảo hộ với tư cách tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian. Trang phục nghi lễ, đạo cụ, mô hình kiến trúc lễ hội có thể được bảo hộ bằng kiểu dáng công nghiệp hoặc quyền tác giả. Tên gọi và biểu tượng của lễ hội có thể được đăng ký nhãn hiệu để ngăn chặn việc sử dụng trái phép cho mục đích thương mại. Và toàn bộ không gian lễ hội, khi được tổ chức như một sản phẩm du lịch văn hoá, có thể tạo ra dòng giá trị kinh tế đáng kể nếu được quản lý bằng các công cụ sở hữu trí tuệ phù hợp.
Nhận diện và bảo hộ từng yếu tố cấu thành này chính là cách để tập quán xã hội, tín ngưỡng và lễ hội truyền thống tham gia vào nền kinh tế di sản mà không bị thương mại hoá một cách biến dạng hay xâm phạm không gian thiêng của cộng đồng.
Di sản văn hoá vật thể, nhóm có khả năng tạo dòng giá trị trực tiếp
Di sản văn hoá vật thể theo Luật Di sản văn hóa bao gồm di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh, được xếp hạng thành di tích cấp tỉnh, di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt tuỳ theo giá trị, nhóm còn lại bao gồm di vật là các vật phẩm có giá trị lịch sử văn hoá được lưu truyền lại, cổ vật là các hiện vật có giá trị tiêu biểu với tuổi đời từ 100 năm trở lên, và bảo vật quốc gia là những hiện vật có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước.
Trong mô hình "di sản dẫn dắt phát triển kinh tế", đây là nhóm có khả năng tạo ra dòng giá trị kinh tế trực tiếp thông qua du lịch văn hoá, cũng như dòng giá trị gián tiếp thông qua quyền sử dụng hình ảnh di sản trong các sản phẩm thương mại như phim ảnh, quảng cáo, hàng lưu niệm, đồ hoạ và thiết kế. Cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ hiện hành đối với nhóm này chủ yếu dựa trên ba công cụ gồm nhãn hiệu và nhãn hiệu tập thể để bảo vệ tên gọi và biểu tượng của các điểm đến di sản, kiểu dáng công nghiệp đối với các sản phẩm phái sinh lấy cảm hứng từ hình thức di sản, và quyền tác giả đối với các bản ghi hình, tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm tạo hình về di sản.
Tái hiện sân khấu hóa lễ Nguyên đán thời Nguyễn với nhiều lễ tiết cung đình sinh động, hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách gần xa có cơ hội thưởng lãm
Khoảng trống lớn nhất của nhóm di sản vật thể nằm ở chỗ pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam chưa có một cơ chế đặc thù về quyền cấp phép sử dụng hình ảnh di sản cho mục đích thương mại. Một hình ảnh di tích quốc gia đặc biệt, dù thuộc phạm vi công cộng theo quy định thông thường về quyền tác giả, vẫn có thể được đặt vào một chế độ cấp phép riêng gắn với vai trò quản lý của cơ quan nhà nước đối với di sản ấy. Mô hình này đã được Italia áp dụng theo Bộ luật về Di sản văn hoá và Cảnh quan, theo đó việc sao chép hoặc sử dụng hình ảnh các tài sản văn hoá thuộc sở hữu nhà nước cho mục đích thương mại phải có sự cho phép của cơ quan quản lý có thẩm quyền và phải trả phí cấp phép, với mức phí được xác định dựa trên tính chất hoạt động, phương thức sao chép, mục đích sử dụng và lợi ích kinh tế mà bên xin cấp phép có thể thu được.
Cần nhấn mạnh ngay rằng mô hình Italia không phải là một giải pháp được cộng đồng học thuật quốc tế đồng thuận hoàn toàn. Việt Nam hiện chưa có quy định pháp luật tương đương, và đây là một khoảng trống cần được xem xét trong giai đoạn tới. Nhưng việc xem xét cần được tiến hành với tinh thần xây dựng một mô hình phù hợp với điều kiện Việt Nam, kết hợp bài học quốc tế với đặc thù của hệ thống quản lý di sản trong nước, không phải sao chép nguyên văn bất kỳ mô hình nước ngoài nào.
Bởi nếu thiếu một cơ chế cấp phép và thu phí chủ động đối với việc sử dụng thương mại hình ảnh các di tích quốc gia đặc biệt, các di sản thế giới được UNESCO công nhận trên lãnh thổ Việt Nam, cũng như các đô thị di sản mà Nghị quyết 80 đã định hướng phát triển theo mô hình "di sản dẫn dắt phát triển kinh tế", thì một phần đáng kể dòng giá trị kinh tế do chính những tài sản này tạo ra sẽ tiếp tục nằm ngoài khả năng thu và tái phân phối của các chủ thể quản lý trong nước.
Đối với di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia, cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ vận hành theo một logic khác so với di tích. Bản thân các hiện vật này được bảo vệ bằng pháp luật di sản văn hoá về quyền sở hữu, quản lý và kiểm soát xuất nhập khẩu, nhưng hình ảnh, bản sao số hoá và các sản phẩm phái sinh từ hiện vật lại tạo ra một lớp tài sản trí tuệ cần được nhận diện riêng. Khi một bảo vật quốc gia được số hoá ba chiều và đưa lên nền tảng bảo tàng số, bản số hoá ấy có thể được bảo hộ bằng quyền tác giả với tư cách là một tác phẩm phái sinh nếu quá trình số hoá đòi hỏi sự sáng tạo đáng kể trong việc lựa chọn góc chụp, ánh sáng, kỹ thuật dựng hình và cách trình bày. Khi hình ảnh cổ vật được sử dụng trên các sản phẩm lưu niệm, trên bao bì hàng hoá hoặc trong các chiến dịch quảng bá du lịch, dòng giá trị kinh tế phát sinh từ việc sử dụng ấy cần được quản lý bằng cơ chế cấp phép gắn với quyền quản lý của cơ quan hoặc tổ chức đang bảo quản hiện vật. Đây là vùng giao thoa giữa pháp luật di sản và pháp luật sở hữu trí tuệ mà Việt Nam cần sớm có những quy định cụ thể để tránh tình trạng dòng giá trị kinh tế từ di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia bị khai thác mà không có cơ chế thu và tái phân phối phục vụ bảo tồn.
Di sản tư liệu, nhóm mới được luật hoá và những thách thức pháp lý chưa có tiền lệ
Di sản tư liệu là loại hình di sản được Luật Di sản văn hóa quy định rất rõ nét, bao gồm nội dung thông tin được thể hiện bằng ký tự, mật mã, chữ viết, hình vẽ, âm thanh hoặc hình ảnh tĩnh và động, cùng với vật mang tin có thể là chất liệu hữu cơ như lá cây, giấy, vải, gỗ, chất liệu vô cơ như đá, kim loại, gốm, hoặc các định dạng kỹ thuật số như dữ liệu điện tử.
Nhóm di sản tư liệu có tầm quan trọng ngày càng tăng trong bối cảnh di sản văn hoá đang được số hoá với tốc độ chưa từng có theo chính định hướng của Nghị quyết 80, yêu cầu hoàn thành số hoá 100% di sản văn hoá đã được xếp hạng cấp quốc gia vào năm 2026. Khi toàn bộ các mộc bản, châu bản, gia phả cổ, bản đồ cổ, thư tịch Hán Nôm, các bộ sưu tập ảnh lịch sử và các tư liệu nghe nhìn về di sản được số hoá và đưa vào các cơ sở dữ liệu quốc gia, một kho tàng tài sản trí tuệ mới hình thành mà pháp luật hiện hành chưa có cơ chế bảo hộ đầy đủ.
Triển lãm “Thuật trị quốc của Hoàng đế Minh Mạng qua Di sản Tư liệu Châu bản triều Nguyễn”. Ảnh tư liệu
Cơ chế bảo hộ hiện hành đối với nhóm này còn rất mỏng. Về phương diện nội dung thông tin, một phần di sản tư liệu có thể được bảo vệ bằng quyền tác giả nếu nội dung đáp ứng điều kiện về tính nguyên gốc, nhưng phần lớn các tư liệu cổ đã hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả hoặc không xác định được tác giả. Về phương diện cơ sở dữ liệu đã số hoá, có thể được bảo hộ bằng quyền tác giả đối với cơ sở dữ liệu theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ nếu việc tuyển chọn và sắp xếp dữ liệu thể hiện sự sáng tạo, hoặc bằng quy định về bí mật kinh doanh và các biện pháp kỹ thuật chống sao chép. Nhưng các công cụ này mang tính chắp vá và không tạo thành một khung bảo hộ hệ thống cho toàn bộ kho tàng tư liệu di sản đã và đang được số hoá.
Thách thức lớn nhất đối với nhóm di sản tư liệu nằm ở vùng giao thoa giữa số hoá di sản và chủ quyền văn hoá số mà Nghị quyết 80 đã nhắc tới. Khi các mô hình trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang được huấn luyện trên dữ liệu văn hoá ở quy mô toàn cầu, khung pháp lý hiện hành gần như chưa có cơ chế cụ thể để bảo vệ dữ liệu di sản tư liệu đã số hoá trước hành vi khai thác xuyên biên giới không được phép. Một cơ sở dữ liệu mộc bản triều Nguyễn đã được số hoá hoàn chỉnh có thể bị thu thập tự động bởi các công cụ quét dữ liệu phục vụ huấn luyện mô hình ngôn ngữ lớn mà không có bất kỳ cơ chế xin phép hay chia sẻ lợi ích nào. Một bộ sưu tập ảnh lịch sử về di sản kiến trúc Việt Nam đã được số hoá và công bố trực tuyến có thể trở thành dữ liệu huấn luyện cho các hệ thống tạo ảnh bằng trí tuệ nhân tạo mà phía tạo ra cơ sở dữ liệu không hề hay biết. Đây là vùng pháp lý mà không chỉ Việt Nam mà cả thế giới đang trong quá trình tìm kiếm lời giải, nhưng với tư cách một quốc gia có kho tàng di sản tư liệu phong phú và một chương trình số hoá quy mô lớn đã được khởi động, Việt Nam cần sớm có những quy định tiên liệu về bảo vệ dữ liệu di sản số trước khi kho tàng ấy bị khai thác không kiểm soát.
Ra mắt Không gian giới thiệu Di sản tư liệu thế giới của Việt Nam và tài liệu lưu trữ quốc gia tiêu biểu, đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong việc hiện thực hóa chủ trương đưa di sản tư liệu, tài liệu lưu trữ đến gần hơn với xã hội, phục vụ cộng đồng ngày 28/1/2026 tại Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước (Bộ Nội vụ)
Bức tranh tổng thể và những khoảng trống cần lấp đầy
Nhìn qua ba nhóm di sản theo phân loại của Luật Di sản văn hóa, bức tranh bảo hộ sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế di sản Việt Nam đã có những thành tựu và phần còn khuyết thiếu rõ rệt. Thành tựu nhất nằm ở loại hình nghề thủ công truyền thống với hệ thống chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể đã có khung pháp lý hoàn chỉnh và thành tựu quốc tế đáng ghi nhận. Thành tựu tiếp theo nằm ở quy định về công bố nguồn gốc nguồn gen và tri thức truyền thống, đặt Việt Nam vào nhóm đi trước trong khu vực. Và bước chuyển nhận thức quan trọng nhất nằm ở Luật Di sản văn hóa khi lần đầu tiên định danh cộng đồng là chủ thể có quyền đối với di sản phi vật thể.
Nhưng vẫn còn những vùng xám mà khung pháp lý hiện hành chưa đủ chi tiết để phục vụ cho việc hình thành mô hình "di sản dẫn dắt phát triển kinh tế" theo Nghị quyết 80. Quan trọng nhất là cơ chế xác định chủ thể quyền và vận hành bảo hộ đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian theo Luật Sở hữu trí tuệ, nơi quyền của cộng đồng đã được ghi nhận nhưng chưa có hướng dẫn thực thi.
Chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Ninh) hiện đang lưu giữ 3050 mộc bản. Đây không chỉ là di sản tư liệu quý hiếm mà còn là minh chứng cho chiều sâu văn hóa, lịch sử và tư tưởng của dân tộc Việt Nam
Tiếp theo là cơ chế quyền cộng đồng và chia sẻ lợi ích đối với tri thức dân gian, nơi nguyên tắc công bố nguồn gốc đã có nhưng dòng tiền chưa chảy về cộng đồng chủ thể. Bên cạnh đó là cơ chế cấp phép sử dụng thương mại hình ảnh di sản vật thể, nơi dòng giá trị kinh tế đang phát sinh nhưng chưa có công cụ pháp lý để thu và tái phân phối. Cuối cùng, mới nhất và có tốc độ phát triển nhanh nhất là khung pháp lý chuyên biệt về bảo vệ dữ liệu di sản tư liệu đã số hoá và chủ quyền văn hoá số.
Các "vùng xám" này, cộng với bài toán thực thi về năng lực đăng ký bảo hộ chủ động ở nước ngoài và cơ chế phối hợp liên ngành trong xử lý các vụ việc trên môi trường số xuyên biên giới, tạo thành một bản đồ công việc cho giai đoạn 2026 đến 2030. Nhưng hoàn thiện pháp luật chỉ là một phần của bức tranh lớn hơn. Pháp luật dù được hoàn thiện đến đâu cũng chỉ là điều kiện cần, còn điều kiện đủ nằm ở năng lực thực thi, nhận thức của các chủ thể tham gia thị trường, và sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước.
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã mở ra tầm nhìn chiến lược khi khẳng định vai trò của di sản văn hóa trong phát triển kinh tế, với mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa đóng góp tới 7% GDP vào năm 2030 và 9% GDP vào năm 2045, đồng thời hình thành mô hình "di sản dẫn dắt phát triển kinh tế" tại các khu di sản thế giới và một số đô thị di sản.
Với tư duy đột phá và tầm nhìn chiến lược, tỉnh Quảng Ninh đang cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam bằng những hành động thiết thực.
Trong bối cảnh cần đổi mới tư duy phát triển văn hóa hiện nay, lễ hội truyền thống đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng. Đó là từ không gian sinh hoạt tín ngưỡng mang tính cộng đồng trở thành nguồn tài nguyên văn hóa có khả năng tạo lập giá trị kinh tế.
Đăng nhập
Họ và tên
Mật khẩu
Xác nhận mật khẩu
Mã xác nhận
Đăng ký
Xin chào, !
Bạn đã đăng nhập với email:
Đăng xuất