(TT&VH) - Sự hiện diện đã trên 50 năm của một thực thể như Hội Nhà văn Việt Nam tất nhiên đã tạo thành điều mà người ta gọi là "bề dày" lịch sử hoặc truyền thống. Những phần việc ghi các trang gọi là truyền thống hoặc lịch sử, đây đó đã thấy xuất hiện. Nhưng những dữ kiện thiếu chuẩn xác, thiếu nhất quán trong dòng các thông tin về người và việc năm xưa, dù sao cũng đã bộc lộ. Và chẳng có gì hay hơn là sớm chỉ ra những điều đó để sớm tìm ra sự thật.
Dưới đây tôi đề cập vài thông tin mà theo tôi là còn chứa đựng sự trái ngược về thành phần hội viên Hội nhà văn Việt Nam đợt đầu tiên, sau kỳ hội nghị thành lập Hội (từ ngày 01 đến 04/04/1957).
Về danh nghĩa những “hội viên sáng lập” và thành phần BCH
Thống kê cụ thể ở phần ruột cuốn sách trên cho thấy có 165 nhà văn mang ký hiệu A, từ A1 đến A165, tức là 165 người ấy đều là những hội viên sáng lập (!?)
Thế nhưng, đọc lại báo chí đương thời ở Hà Nội đưa tin về hội nghị ấy (đương thời gọi cuộc hội họp ấy là hội nghị chứ không gọi là đại hội), ta sẽ thấy một thực tế hơi khác.
Thứ nhất, số người tham dự Hội nghị thành lập Hội Nhà văn Việt Nam là 278 người. Tường thuật Hội nghị thành lập Hội nhà văn Việt Nam của Đào Vũ trên Tạp chí Văn nghệ (số 1, tháng 6/1957, tr. 109-111) nói “hơn 200 anh chị em nhà văn và những người công tác văn học” đã về dự hội nghị này, còn phóng viên tuần báo Văn (số 1, ngày 10/5/1957, bài Một tháng hoạt động của Hội Nhà văn, tr.1-2) thì nói rõ con số 278 đại biểu dự hội nghị này. Như vậy, nếu tất cả những nhà văn đã dự hội nghị thành lập Hội đều là hội viên sáng lập thì con số ấy phải là 278 người. Tại sao và lấy ở đâu ra con số 165 người? Đây là điều cần tìm hiểu thêm để giải đáp.
Thứ hai, tài liệu từ nguồn báo chí đương thời cho thấy vấn đề “hội viên sáng lập” được hội nghị ấy bàn thảo và quyết định theo cách khác; dưới đây vẫn trích theo bài tường thuật dẫn trên của Đào Vũ (1957): “Vấn đề bầu BCH cũng được anh chị em trao đổi ý kiến kỹ – Có hội viên đã rồi mới bầu được BCH hay là hội nghị thành lập Hội này bầu ngay nên BCH? BCH này là chính thức hay lâm thời? v.v… Cuối cùng ai nấy đều thấy trong hoàn cảnh Hội mới được thành lập như bây giờ, cách làm như trong hội nghị là đúng nhất. BCH chính thức đầu tiên đã được bầu cử. Những ủy viên ấy chính là những hội viên sáng lập và sau đây sẽ bắt tay ngay vào việc kết nạp hội viên vào Hội”. (bài đã dẫn, tr. 110)
BCH được bầu ra trong hội nghị ấy, chính là những hội viên sáng lập, gồm 25 người (theo tuần báo Văn số 1 dẫn trên): Nông Quốc Chấn, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Đình Thi, Tú Mỡ, Anh Thơ, Mộng Sơn, Cầm Biêu, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Huy Tưởng, Hoàng Cầm, Sao Mai, Tố Hữu, Hoàng Tích Linh, Nguyên Hồng, Bửu Tiến, Xuân Diệu, Đoàn Giỏi, Phạm Huy Thông, Tế Hanh, Nam Trân, Vũ Tú Nam, Hoàng Trung Thông, Xuân Miễn, Tô Hoài, Nguyễn Tuân.
Như vậy, không khó khăn gì để khẳng định 25 người này là những hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam.
Cuốn sách NVVNHĐ (1992) nêu một danh sách BCH được bầu tại “đại hội lần I” gồm 32 người, so với danh sách 25 người mà tường thuật của tuần báo Văn đã nêu trên, thì có dư 7 người: Bùi Hiển, Hoài Thanh, Nguyễn Văn Bổng, Phạm Ngọc Truyền, Thanh Tịnh, Thép Mới, Vân Đài. Chỗ này lại nảy sinh một câu hỏi nữa: danh sách 32 ủy viên chấp hành khóa 1 mà nhóm biên soạn năm 1992 đưa ra là lấy từ đâu? (Quả thật, phiên họp lần 4 BCH vào 2&3/7/1958 sẽ loại bỏ 2 người là Hoàng Cầm và Hoàng Tích Linh khỏi BCH và bầu bổ sung 5 người vào BCH: Hoài Thanh, Nguyễn Văn Bổng, Võ Huy Tâm, Nguyên Ngọc, Phạm Ngọc Truyền; so với sách Nhà văn VNHĐ (1992) vẫn có chênh lệch; sau đó lại còn có những thay đổi nữa; vấn đề là những thay đổi về sau không thể làm thay đổi tư cách hội viên sáng lập ban đầu).
Số hội viên kết nạp đợt đầu là bao nhiêu?
Theo dõi việc tiến hành kết nạp hội viên trong những ngày tháng đầu mới có Hội nhà văn sẽ càng thấy rõ con số hội viên được kết nạp đợt đầu được định hình ra sao.
Ngay phiên họp BCH lần 2 vào ngày 25 và 26/4/1957, bên cạnh các việc khác, một ban kết nạp hội viên đã được lập ra do Tú Mỡ làm trưởng, Nguyên Hồng làm phó, có một tiểu ban chuyên môn giúp việc (tin của báo Văn số 1). Sau quá trình làm việc khoảng 4 tháng, phiên họp 4 ngày của BCH Hội nhà văn (từ 15 đến 18/8/1957) dành 2 ngày đầu xét duyệt kết nạp hội viên: 21 uỷ viên biểu quyết bằng bỏ phiếu kín, quy định những trường hợp được kết nạp phải đạt 50% + 1 phiếu trở lên. Kết quả có 127 người đủ số phiếu quy định. Sau đó xét thêm các trường hợp nhà văn các dân tộc thiểu số và biểu quyết thông qua thêm 6 người. “Hoàng Cầm tuyên bố kết quả sau cùng, hội nghị vỗ tay chào mừng lực lượng văn học đầu tiên được kết nạp vào Hội. Tổng số hội viên dự định kết nạp lần thứ nhất là 158 bạn, kể cả những bạn đã được bầu vào BCH ngày thành lập Hội” (Nguyễn Viết Lãm: Hội nghị BCH Hội nhà văn Việt Nam/ BáoVăn số 13, ngày 2/8/1957). Như vậy, con số hội viên kết nạp lần 1 là 158 gồm 25 ủy viên chấp hành + 127 người được xét theo tiêu chí thông thường + 6 người được xét theo tiêu chí nhà văn dân tộc thiểu số. Đó là con số của báo chí đương thời. Thiết nghĩ, con số đó không thể sai.
Không rõ nhóm biên soạn sách NVVNHĐ năm 1992 lấy ra danh sách 165 hội viên được kết nạp đợt đầu từ nguồn nào?
Xin nhắc lại, quy chế “hội viên sáng lập” Hội Nhà văn Việt Nam chỉ gồm những nhà văn được bầu vào ban chấp hành Hội tại hội nghị thành lập Hội, mà theo báo chí đương thời chỉ gồm 25 nhà văn như đã nêu trên.
Những việc như cho rằng “hội viên sáng lập” bao gồm tất cả những nhà văn đã dự hội nghị, đều là sai.
Việc nêu danh sách 32 ủy viên chấp hành, trong đó 7 người trên thực tế không được bầu ra tại hội nghị thành lập Hội, là điều cần tìm tòi lại sự thật.
Thụy An và Trương Tửu có phải hội viên nhà văn?
Câu hỏi này có vẻ vô duyên, nhưng lại có sự thực này: Ngay sau khi học tập đấu tranh chống Nhân văn – Giai phẩm kết thúc, BCH Hội Nhà văn đã họp để chấn chỉnh tổ chức, trong phiên họp ngày 2 và 3/7/1958 khi xét và quyết định thi hành kỷ luật một số hội viên của mình, đã quyết định khai trừ hẳn ra khỏi Hội nhà văn Việt Nam 3 người: Thụy An, Trương Tửu, Phan Khôi (tin của báo Văn học, số 5, ngày 5/7/1958, tr.11).
Thế nhưng ngày nay, xem trong các cuốn danh sách hội viên Hội nhà văn Việt Nam in ra các năm 1992, 1997, 2007, người ta thấy có tên của Phan Khôi nhưng không thấy tên của Thụy An và Trương Tửu. Nếu lập luận rằng các danh mục hội viên trên chỉ được lập về sau nên đã không ghi tên các nhà văn bị khai trừ, thì lập tức có câu hỏi: vì sao còn thấy tên Phan Khôi? Còn nếu lập luận rằng Thụy An và Trương Tửu chưa từng vào Hội nhà văn thì có câu hỏi: lẽ nào ban chấp hành Hội, vào ngay sau những ngày đấu tranh căng thẳng, lại cùng nhau ra một nghị quyết khai trừ 2 người không phải là hội viên của Hội mình?