Văn hoá

Những người lính mãi bé thơ

24/04/2010 13:33 GMT+7 Google News
(TT&VH) - LTS: Họa sỹ Lê Trí Dũng, sinh năm 1949, Ủy viên BCH Hội Mỹ thuật Việt Nam, cựu chiến binh bộ đội Tăng - Thiết giáp trong kháng chiến chống Mỹ, từng tham gia chiến dịch Quảng Trị và chiến dịch Hồ Chí Minh. Năm 1989, ông tham gia cuộc triển lãm Hội họa Việt-Mỹ đầu tiên với chủ đề “Cái nhìn từ hai phía” do 40 họa sỹ, cựu chiến binh (CCB) Việt Nam và Mỹ tiến hành. Một năm sau, ông được các CCB Mỹ mời sang triển lãm cá nhân, trưng bày tại Boston với tên gọi “Cánh hòa bình”. Trong thời gian này, ông đã đi gần khắp nước Mỹ, gặp gỡ nhiều CCB Mỹ và cả CCB quân đội Việt Nam Cộng hòa lưu vong, tận mắt chứng kiến nhiều mảnh đời sau cuộc chiến...

Đến năm 2009, các CCB họa sỹ nhiều nước trên thế giới lại hội tụ trong một triển lãm hội họa có cái tên “Nam Bang” tại Sydney (Australia) với những đề tài về hậu chiến chiếm đa số.

Suốt hơn 20 năm qua, những người lính Mỹ, lính Australia (giờ đã là những họa sỹ) đã trở thành bạn ông. Kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng miền Nam, TT&VH xin giới thiệu bài viết mới đây của họa sỹ Lê Trí Dũng.


Họa sỹ Lê Trí Dũng (trái) bên tác phẩm của mình tại Triển lãm Nam Bang (2009). Bên phải là William Short, CCB Mỹ, người đã từng chống lệnh hành quân 1969 ở Bến Cát và bị nhốt vào côngtenơ

Những đứa trẻ từ hai phía

Mùa đông 1966, bên hồ Thiền Quang dưới những cây đề rụng lá... Một đứa trẻ 15 tuổi gầy nhẳng, cổ cao, chân dài, vai khoác một túi lưới đựng một quả bóng đá, các miếng da vá chằng chịt với nhau bằng những sợi giây thép nhọn hoắt cùng lũ trẻ con đen đúa, lấm lem, nhễ nhại mồ hôi sau trận đá bóng ở hồ Bảy Mẫu trở về  nhà...

Nó cúi xuống lòng đường Trần Nhân Tông, nhặt lên một mảnh bom bằng gang dài chừng 15cm, rỉ sét, cạnh sắc lưa tưa. Đó là mảnh vỡ của những trái bom đầu tiên xuống Hà Nội, cậu bé đó giữ mảnh bom đó mãi gần 50 năm sau. 11 năm sau cái ngày cậu nhặt được mảnh bom lên, hàng vạn trái bom tiếp tục quăng xuống quê hương cậu, hàng tỷ mảnh vỡ lấy đi hàng triệu sinh mạng đồng bào cậu... và gần 50 năm sau, nhiều trái bom còn chưa nổ, còn nằm im trong lòng đất...

Cũng vào những năm thập kỷ 60 đó. Đầu bên kia bán cầu, ở Boston, phía Đại Tây Dương (cũng có thể là San Francisco phía Thái Bình Dương) một lũ nhóc tóc vàng hoe, có đứa tóc bạch kim, trạc 15 tuổi đang trượt pa-tanh trên đường phố, nhìn chúng cắp những bàn trượt bóng lỳ bằng gỗ tần - bì có in hình ông Già Tuyết, “đi” những cú điệu nghệ mà không có độ dẻo của tuổi trẻ, chắc gãy xương như chơi...

Không một ai có thể ngờ rằng, lũ trẻ đó, vài năm sau thôi, đã cao lớn trong bộ quân phục cầu kỳ, tiện dụng, đầu đội mũ sắt bọc lưới, balô tiện nghi cho cả một gia đình trên lưng, áo giáp che ngực, giầy đi rừng, AR15 cực nhanh, la bàn, lương khô, thịt hộp, viên lọc nước, dao đa năng... đổ bộ xuống một cánh rừng, một bãi biển, một mỏm đồi lúp xúp cỏ gianh... giao chiến với lũ trẻ tóc đen da nâu mồ hôi mồ kê nhễ nhại kia (tất nhiên lúc này bọn trẻ đá bóng đã kịp lớn lên, cường tráng) với AK trên lưng, mũ tai bèo, dép cao su và bộ Tô Châu xanh lúc nào cũng đẫm mồ hôi.

Đói, khát, nằm rừng, phục kích, tắm truồng dưới vòi phun nước từ trực thăng chở nước sạch từ Đà Nẵng ra... Đó là tình cảnh của những người lính Mỹ. Rồi bị đối phương ẩn hiện, ban đêm luồn vào căn cứ “thịt”. Lệnh trên trả đũa bằng giết hết dân cả làng, toàn đàn bà trẻ con... Nhẫn tâm quá... Phản chiến! Bị chỉ huy nhốt vào côngtenơ 2 ngày dưới cái nóng trung phần, đỏ như tôm luộc.

Thì họ đã biết rồi mà. Chiến tranh mãi cũng đến ngày kết thúc, cờ hoa, chợ quân trang quân dụng trút ra từ tổng kho Long Bình, đồng hồ Seiko, máy ảnh Canon, trút ra từ các tiệm hàng kính vỡ toang hoác... May thành phố không nát vụn ra như Berlin sau đại chiến hai.

Chiếc vòng tặng cho “Việt cộng” đầu tiên

Mãi mười mấy năm sau, người ta mới tổ chức được một cuộc triển lãm hội họa dưới cái tên “Cái nhìn từ hai phía”! Những chú bé năm xưa đá bóng và trượt pa-tanh, trở về, người học hành, người lao động kiếm sống... tham gia triển lãm này, khai mạc tại Boston, đi vòng 15 bang lớn rồi bế mạc tại Hà Nội.


Chiếc vòng mà cựu binh Mỹ Denis Staout tặng họa sỹ
 Lê Trí Dũng - người “Việt cộng” đầu tiên mà anh gặp.

Hôm bế mạc, họa sỹ lính hai nước gặp nhau, tóc muối tiêu, phờ phạc, tàn tạ... Trong khán phòng, giới thiệu danh tính, các họa sỹ Mỹ tròn mắt, trực tiếp nhìn “Việt Cộng” năm xưa giao chiến mà bây giờ mới thấy mặt. Toàn những ông gày gò, hiền khô, có phần bẽn lẽn. Những người lính hai bên lúc tâm tình, y hệt lúc quẳng trái bóng hoặc bàn trượt pa-tanh ra một góc, mày tao ông ổng, dường như chưa có cuộc chiến nào nằm giữa khoảng thời gian từ lúc họ gầy nhẳng, mặt đầy lông tơ tới khi họ biến thành ông già tóc muối tiêu.

Nhưng cuộc chiến ấy đã để lại “chiến tích” nặng nề! 1991, ở Boston, tôi nhận được một cú điện thoại xin gặp, người gọi xưng danh là Denis Staout, cựu chiến binh Việt Nam, nay là thợ điện sống ở Hawai, anh xem tivi và biết tôi vừa đến Mỹ (ngày ấy, đến Mỹ rất khó, nhất là cựu chiến binh). Và anh đã bay từ Hawaii đến Boston để gặp tôi, chỉ để ăn chung một bữa cơm và trao cho tôi chiếc vòng đeo cổ có gắn đầu con sơn dương bằng bạc...

Anh nói: Chiếc vòng này, mẹ tôi đã quàng vào cổ tôi ngày sang Việt Nam ở sân bay, như một lá bùa hộ mệnh, từ cuộc chiến trở về, hằng đêm tôi không thể ngủ yên khi nhớ lại... sự khốc liệt, những gương mặt người... Bà già, con trẻ... cả những “Việt cộng”, những du kích lọt vào tay bọn tôi, những đàn ông hàm vuông, môi dầy, vai rộng, chân ngắn, da ngăm đen thất thần trước mũi lê của bọn tôi nhưng không khai một lời... Tôi trở về, và mong có ngày sẽ trở lại dải đất hình chữ S, dải đất mà tôi đã nướng tuổi thanh xuân vào mưa rừng, nắng lửa xứ ấy, và ngầm dự định sẽ tặng lại chiếc vòng này cho “Việt cộng” đầu tiên mà tôi gặp...”.

Tôi cầm chiếc vòng lên, đó là một sợi dây da màu đen đã săn lại bởi mồ hôi và mưa gió thấm vào, hai đầu có hai móc sắt, chính giữa là đầu một con sơn dương đúc nổi rất tỷ mỉ và tinh xảo, to bằng ngón tay cái, những góc sừng cong vút ở chỗ lõm đen kịt lại, phần lộ ra bị ma sát sáng bóng, có chỗ mòn vẹt...

Ở bang Mên (giáp Canada), tôi đã gặp Kewill, theo lời giới thiệu, đó là thượng sỹ thám báo từng tham chiến tại Pleiku (Tây Nguyên), anh ta nghe nói có một người lính Việt cộng vừa tới nên đòi gặp... Người ta cũng nhắc tôi là tôi có thể gặp (nếu muốn) hoặc không gặp, vì anh ta đang bị tâm thần!

Tôi đã gặp. Đó là một người đàn ông cao gần 2 mét, tóc xõa chấm vai, bết lại do lâu ngày không tắm gội, quần áo bẩn thỉu, đặc biệt hai bàn tay rất to, vảy đóng cóc cáy từng lớp, dân làng nói với tôi rằng, Kewill trở về Mên, hằng đêm mơ thấy lửa cháy, thấy máu, thấy đạn nổ... Vợ anh đã bỏ anh đi, không một lời. Mẹ già đã mất, anh sống bằng hảo tâm của dân làng, lúc nhớ lúc quên... Tôi lấy ra một chiếc vòng xương, chiếc vòng cuối cùng có gắn một đóa hồng chạm từ xương động vật và nhìn thẳng vào mắt anh... Từ tròng mắt xanh đục, ứa ra những giọt nước mắt, Kewill quì trước tôi, run rẩy nói: "Thế là tôi đã thanh thản được rồi, tôi đã được một Việt cộng tha thứ, tôi đã có một đóa hồng...” Anh gào lên: “Tôi đã thanh thản được rồi!...”. Tôi cũng khóc, các cựu chiến binh Mỹ ngồi quanh đều khóc, mỗi người đều có tâm sự riêng, họ không biết là tôi đang nhớ lại điều mong mỏi của Đức Phật, cho tất cả nhân sinh trên cõi thế này, đó cũng chỉ là hai chữ “thanh thản” mà thôi!

Sao lại mau nước mắt như thế?

Lại hai mươi năm nữa trôi đi.

Những đứa trẻ bây giờ đã già lắm rồi, tóc không còn hoa râm nữa, bạc nhiều rồi, bệnh tật tàn phá cơ thể, nhiều người đã ra đi.

Ở Sydney – Australia một trung tâm văn hóa, bảo tàng có tên là Casula Powerhouse lại tổ chức một cuộc triển lãm lớn về đề tài chiến tranh Việt Nam dưới cái tên “Nam Bang” (Tiếng nổ ở Việt Nam) 4/2009... Lần này, khác triển lãm “Cái nhìn từ hai phía” ở Mỹ do William Joiner Center tổ chức lần trước là đề tài về hậu chiến nhiều hơn và hình thức biểu diễn đa dạng hơn... Trong cuộc “hành quân” tại Australia lần này, tôi đã gặp nhiều đứa trẻ như thế, và gặp cả William Short, lính chiến trong Sư đoàn Anh Cả Đỏ (Mỹ) năm xưa, người đã từng chống lệnh hành quân 1969 ở Bến Cát và bị nhốt vào côngtenơ, người đã cùng tôi tham gia “Cái nhìn từ hai phía” ở Boston ngày ấy.

Người đầu tiên là chuẩn úy bộ binh Ray Beattie, gốc Ailen, cơm tây mà gầy nhẳng, từ cuộc chiến trở về, vợ bỏ, sống bằng trợ cấp cựu chiến binh, làm họa sỹ, nhiều năm sau, hai chữ Việt Nam không dứt khỏi đầu, lại lấy vợ nữa, một phụ nữ Việt Nam, chị Bội Trân (chị là nhà nghiên cứu nghệ thuật và đã cùng chồng đưa ra dự án tổ chức “Nam Bang”). Cuộc sống với mức sống trung bình, nhà thuê, xe trả góp... Bao nhiêu tiền dành cả vào các hoạt động vì Việt Nam.

Anh lái xe đưa tôi đi thăm Bảo tàng lịch sử Quân sự Australia ở Thủ đô Canberra. Đó là một bảo tàng hiện đại mà vào đó, gió cánh quạt trực thăng, cỏ lau cháy rạp, mùi khét lẹt của thuốc súng, âm thanh gầm rú của 10 chiếc trực thăng trong chiến đoàn trực thăng vận đang đổ quân, đạn pháo nổ, bộ đàm gào thét, liên thanh cấp tập... Trên màn ảnh rộng, rừng cây rạp xuống, và tôi đã âm thầm khóc... khi thấy lấp ló trong bóng lá rừng những chiếc mũ cối... Không biết trong số họ, ai còn ai mất tới ngày nay... Ra khỏi phòng triển lãm, thấy mắt tôi đỏ hoe. Ray tỏ ra ân hận!

Sân bay Sydney.

Chỉ còn vài phút nữa là tôi đã phải chia tay rồi, đứng kia là Short, lính Mỹ, và đây Ray / Trevor, lính Austraia. Tôi chắc chắn, nếu còn nán lại, tôi sẽ khóc nấc lên mất... Những người lính chúng tôi, sao lại mau nước mắt như thế? Lúc xách cái valy lên, tôi thấy Trevor cũng khóc, cả Ray, cả Short nữa...

Có lẽ, bởi vì những người lính chúng tôi, mãi mãi là những bé thơ? Tôi nghĩ thế!

Dịp 30/4/2010

L.T.D

Lê Trí Dũng

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm