Thành lập tổ quay phim chiến trường
54 năm sau, trong căn phòng nhỏ tại dãy nhà D4, phường Nghĩa Tân, Hà Nội, đạo diễn điện ảnh Nguyễn Ngọc Quỳnh - một phụ quay trong tổ làm phim chiến trường - bồi hồi kể lại những ký ức quay phim Điện Biên Phủ (ĐBP): “ Tổ quay phim hồi đó gồm có 4 người, được tuyển chọn gấp từ các cơ quan, đơn vị khác nhau. Tôi lúc đó là phóng viên ảnh của Tổng cục Chính trị; anh Nguyễn Tiến Lợi xuất thân từ một hiệu ảnh gia đình, đi kháng chiến, trở thành phóng viên nhiếp ảnh Đại đoàn 308 và được chỉ thị quay chính; anh Quý Lục được điều về xây dựng ngành điện ảnh khi đang công tác tại UBND tỉnh Yên Bái, làm phụ quay; Nguyễn Sinh - một thanh niên người dân tộc Thái - làm nhiệm vụ khuân vác máy móc và đảm bảo công tác hậu cần. Nói chung, tất cả chỉ được học qua một vài lớp đào tạo cấp tốc cầm máy quay phim, chụp ảnh để kịp tung vào chiến trường ghi lại những hình ảnh và khoảnh khắc lịch sử cho đất nước. Ngay sau khi thành lập, tổ làm phim nhận được lệnh của Ban lãnh đạo ngành điện ảnh: Chuẩn bị tham gia chiến dịch”.

Đoàn quay phim Điện Biên Phủ
Đạo diễn Nguyễn
Tiến Lợi, quay phim chính tại chiến trường, nguyên PGĐ Hãng phim truyện Việt
Nhưng với chúng ta thời điểm đó có được một
chiếc máy 16 ly cũng đã là quý rồi. Cũng vì vậy mà chỉ có một mình tôi được
quay chính. Còn ba người còn lại trong tổ mỗi người lo một việc. Anh Quý Lục lo
bảo vệ, bảo quản máy móc, anh Ngọc Quỳnh lo tiền trạm, khảo sát địa hình địa
điểm quay phim, cung cấp phim cho máy quay, anh Nguyễn Sinh lo hậu cần. Phân
công trách nhiệm là vậy nhưng ba anh cũng có thể sẵn sàng thay tôi cầm máy quay
phim khi cần thiết.
Chỉ dám ngắm chứ... không dám quay
Cả đội điện ảnh lúc ấy cũng chỉ có khoảng 900 thước phim, phải đôn đáo, bí mật mua thêm từ những vùng địch hậu như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và cả Sài Gòn nữa mới được hơn 1.000 thước phim. Gần một tháng sống cùng bộ đội, anh em chỉ dám đưa máy ra ngắm bộ đội tập trận chứ không dám quay, bởi phải để dành phim cho chiến dịch. Rồi tổ làm phim tiếp tục hành quân lên phía Bắc.
Ngày nghỉ, đêm đi,
núi rừng trùng điệp, hoang vu nhưng bom đạn càng ngày càng ác liệt. Nhìn từng
đoàn dân công tải lương, tải đạn trùng trùng tiến về phía trước, ông Tiến Lợi
tỏ ra tiếc nuối: “
Chúng tôi không quay
được nhiều hình ảnh bộ đội, nhân dân hành quân ra mặt trận lòng sục sôi, khí
thế, vui như trẩy hội. Tranh thủ những lúc nghỉ ngơi, chúng tôi chiếu phim bằng
miệng cho bộ đội và dân công cùng nghe, đó là những bộ phim mình đã được xem”.
Mọi người khi đó chưa biết điện ảnh ra sao nên tỏ ra thích thú lắm, họ quây
quần thành vòng tròn, ngồi im lặng nghe như nuốt lấy từng lời, từng cử chỉ,
hành động của người kể, phim được kể nhiều nhất là Bạch Mao nữ.

Chọn góc độ để có những thước phim đẹp
Những thước phim quay trong máu lửa
Đúng 17h ngày 13/3/1954 quân ta đánh đồi Him Lam, trận phản kích đầu tiên vào tiểu đoàn Lê Dương và đại đội Ngụy. Trận mở màn ở đồi Him Lam thật ác liệt. Nguyến Tiến Lợi hào hứng: “ Chúng tôi quay cảnh quân ta xung phong đánh đồn, cảnh máy bay địch ném bom... Cứ thế, quen dần với chiến trường, những thao tác máy cũng thuần thục hơn. Cả tổ theo sát chiến sĩ xông vào những nơi chiến sự xảy ra ác liệt nhất như đồi phía Đông C1, C2, D1, D2...”.
Điện Biên vào mùa
mưa, chiến hào lầy lội, nhão nhoét bùn đất và cả máu. Có lúc phải đào hầm ếch
để trú, bộ đội chạy qua chọc cả gậy vào người, vẫn phải chịu đựng chờ xuất
kích. Có lúc ta và địch chỉ cách nhau 100 mét, giành giật từng tấc đất. Nấp
trong lô cốt chiếm được của địch quay ra khói đạn mù mịt. Ngọc Quỳnh vẫn chưa
quên thời khắc cam go ác liệt đó: “
Khi
ngồi trong lô cốt chiếm được của địch để quay ra chiến trận, vì ống kính máy
quay quá nhỏ, tôi và anh Quý Lục phải thay nhau bò ra khỏi lỗ châu mai dọn
những cành cây khô làm vướng ống kính để anh Tiến Lợi quan sát và quay được dễ
dàng hơn. Đó là cách duy nhất để tiết kiệm phim”. Vào trận, khi nào quân ta
đánh mạnh nhất thì nhảy lên quay. Đứng trên miệng hào trong bom đạn ầm ầm, máy
quay rung lên bần bật. Sự sống và cái chết hết sức mong manh, quay phim đứng
cao lênh khênh dễ lộ mục tiêu.

Nhà quay phim Ngọc Quỳnh thời ấy
Quay hết điểm này,
anh Ngọc Quỳnh lại đi trinh sát trước các điểm khác xem có thể đặt máy ở đâu,
nếu bị đánh thì rút lui, trú ẩn thế nào... để đón anh em đến. Cũng có khi cao
điểm này mình đánh buổi sáng, tối địch đã chiếm lại, mình chiếm buổi tối, sáng
hôm sau địch chiếm lại. Giằng co nhau như thế nên chúng tôi gặp rất nhiều nguy
hiểm không lường trước được. Có khi lên đến nơi, không thấy quân ta đâu, lại
thấy lố nhố mấy tên địch đang chiếm giữ ở đấy. Có lần, đang quay ở đồi E (một
khu đồi phía Tây), bất ngờ pháo trút xuống. Chạy vội vào hầm, rúc đầu vào hầm
ếch bé như cái gầm bàn. Bom nổ, rồi pháo nổ. Bao nhiêu lần tức thở, tối tăm mặt
mũi, rồi không biết gì nữa, không biết đã bao nhiêu thời gian trôi qua. Tỉnh
lại, mắt mũi, miệng toàn đất. Cây que, đất đá đè lên người. Tỉnh lại, thấy mình
còn sống, lại lao vào công việc mới.
“Đào hầm lấy chỗ ăn ở. Cây que làm giường,
rải lá cây làm chiếu. Không có nước tắm, nước ăn, phải đi lấy từ rất xa, bởi
sông Nậm Rốm bùng nhùng những xác giặc chết, xác súc vật - một thứ nước loánh
quánh, hôi hám và tanh lợm. Trông ai nấy từ đầu đến chân, bụi đỏ quạch, vậy mà
máy quay lúc nào cũng được bảo quản, lau chùi sạch bóng. Tranh thủ những ngày thưa
tiếng súng, nhóm lại về tuyến sau để làm phim và lấy thêm phim từ hậu phương
chuyển lên. Cầm giấy hỏa tốc, trèo lên những xe chở gạo, chở đạn mà đi. Vượt
qua những cánh đồng trống, những đỉnh đồi, bò qua những bờ dây thép gai... Đi
về hai lần như thế, tổng cộng được 1.000 thước phim nữa
”. Vậy là cả chiến dịch có tất cả 2.000 thước
phim.
Tinh thần thép của Nguyễn Thụ
Nguyễn Thụ thuộc
biên chế đội quay phim thứ hai bao gồm đạo diễn Nguyễn Hồng Nghị, các quay phim
Nguyễn Phu Cấn, Như Ái và Nguyễn Đăng Bảy. Đội này lên đây khi chiến dịch đã
gần giai đoạn cuối. Chủ yếu hoạt động ở khu trung tuyến, quay các cảnh bộ đội,
công binh, dân công hỏa tuyến là nhiệm vụ tiếp tế, vận tải lương thực, đạn
dược, thuốc men cho chiến trường bằng các phương tiện thô sơ. Trong lần đi quay
cảnh trao trả tù binh ở một bản người Thái, Nguyễn Thụ đã dính phải mìn, cắt
nát một bàn chân - đạo diễn Hồng Nghị đã ghi lại “sự kiện” này vào sổ “
nhật ký chiến trường” của mình. Lần đó,
để kịp quay cảnh ta trao trả tù binh Pháp ở một bản làng người Thái, tổ quay
phim phải đi đường tắt. Trời mưa, cỏ cây rạp xuống, cờ hiệu đánh dấu bom mìn mờ
nhạt, lấm lem bùn đất. Tổ quay phim lạc vào một bãi mìn, người đi trước cào
đất, bới cỏ để đi, người đi sau đặt chân lên dấu chân người đi trước. Bỗng có
tiếng nổ.
Anh Phu Cấn trong
đội quay phim giật mình quay lại, thấy tấm dù của Nguyễn Thụ bị hất tung lên
cao, mìn đã cắt nát một bàn chân của Nguyễn Thụ. Tổ quay phim buộc phải đưa đến
một bác sĩ của Pháp đang cứu chữa cho thương binh Pháp ở gần đó, yêu cầu ông ta
phẫu thuật cắt bỏ bàn chân cho anh Nguyễn Thụ. Thuốc mê, thuốc tê chẳng có,
phải đổ cồn 90 độ sát trùng rồi cưa bằng dụng cụ và phương pháp thủ công. Vậy
mà Nguyễn Thụ không kêu một tiếng.
Còn một chân vẫn trở lại Điện Biên làm phim
Kết thúc chiến
dịch và sau ngày thủ đô giải phóng, Nguyễn Thụ còn phải vào bệnh viện phẫu
thuật hai ba lần nữa mới lành hẳn. Roman Carmen nhà điện ảnh chính luận nổi
tiếng của Liên Xô (trước đây), người đã có mặt ở Việt Nam trong các năm 1954 -
1955 để làm bộ phim Việt Nam trên đường thắng lợi đã vào thăm anh Nguyễn Thụ ở
nhà thương Phủ Doãn (nay là bệnh viện Việt - Đức). Cảm kích trước mất mát hy
sinh, ông động viên Nguyễn Thụ chữa vết thương lành và hứa sẽ đề nghị Chính phủ
và ngành điện ảnh Liên Xô đưa anh sang học.

Và bây giờ
Năm 1959, khi vết
thương đã lành, Nguyễn Thụ cùng tổ làm phim đã quay về Điện Biên Phủ làm bộ
phim tài liệu Trở lại Điện Biên do ông làm đạo diễn, cùng với ba nhà quay phim
là Tô Cương, Như Ái và Dương Đình Thọ. Chỉ mới bốn, năm năm sau ngày Điện Biên giải
phóng, Lai Châu, Điện Biên đã thay đổi, hòa bình và cuộc sống mới. Nhiều người
lính trước đây cầm súng chiến đấu, nay lại tình nguyện ở lại xây dựng Điện
Biên, xây dựng Lai Châu. Đó là bộ phim rất thành công của Nguyễn Thụ trong vai
trò và chức danh đạo diễn.
Trong từng cảnh
phim bộc lộ cảm xúc mãnh liệt, tình yêu tha thiết với những gì đang từng ngày
từng giờ đổi thay trên mảnh đất mà trước đó không lâu còn là một chiến trường
ác liệt đã từng thấm máu của bao chiến sĩ và người dân, trong đó có phần máu
thịt của anh. Bộ phim đã được giải thưởng lớn Lumumba tại Liên hoan phim thế
giới Á-Phi tổ chức tại
Những thước phim “
Chiến thắng Điện Biên Phủ” (được tặng
giải thưởng Bông sen Vàng trong dịp tổng kết sáng tác 20 năm thành lập điện ảnh
tại liên hoan phim Việt Nam lần thứ 2-1973) hàng năm vẫn được phát lại. Còn họ
- những quay phim chiến trường ĐBP thì chưa một lần được trở lại chiến trường
xưa. Bây giờ lại càng khó, bởi họ đã già yếu quá. Quãng đường ngày xưa họ phải
đi bộ hàng tháng trời, nay những chuyến máy bay đi về không mấy chốc.