Đọc - Xem

Nhà thơ Nguyễn Công Dương (Bài 2): Uống rượu, đạp xe quanh làng làm thơ

06/12/2009 08:45 GMT+7 Google News
(TT&VH) - Trung bình, mỗi ngày, nhà thơ Nguyễn Công Dương - tác giả của Lũy tre (SGK lớp 2- bộ cũ) làm được không dưới 5 bài thơ, ngắn thì 4 câu, dài thì vài trang, chủ yếu là thơ cho trẻ em. Ông có một đặc điểm rất giống với nhà văn Phong Thu, tác giả của Xa ca, xe lu là chỉ thích đi xe đạp, “thích uống rượu hơn uống trà” và giống nhà thơ Lê Huy Hòa - tác giả bài thơ Hoa phượng ở chỗ hay “nhặt được thơ dọc đường khi đương còn trên yên xe đạp”...

Dọc đường thơ, thơ dọc đường

Hôm tôi gặp nhà thơ Nguyễn Công Dương, thấy ông đeo kính đen, ngỡ tưởng ông chuẩn bị “đi bêu nắng nhặt thơ dọc đường” nhưng không phải. Ông đeo kính đen để “ngụy trang” một bọc nhỏ màu đen to gần như viên bi ve vừa mới xuất hiện nơi khóe mắt hơn một năm nay.

Từ ngày xuất hiện cái bọc ấy, vợ ông lo lắng lắm, bảo ông đi viện cắt đi nhưng vì sợ ảnh hưởng đến thần kinh vùng mắt nên ông kệ. Ông bảo: “Với các cháu thiếu nhi tôi sẽ nói bọc này là bọc thơ! Còn với “những người thơ” biết tôi ở dưới Hà Nội nếu họ có hỏi, tôi sẽ nói đó là... bọc rượu. Lâu lắm rồi anh em chẳng được nhâm nhi với nhau. Nhớ quá”.


Câu nói thảng buồn như lời nhắn gửi tới những “người thơ” ông từng yêu quý, đã quá lâu rồi không ghé về Bạch Trữ - làng ông chăng?

Ông thích uống rượu, đi xe đạp và làm thơ. Trong bài Lũy tre trong SGK ông viết: “Mỗi sớm mai thức dậy/ Lũy tre xanh rì rào/ Ngọn tre cong gọng vó/ Kéo mặt trời lên cao...” thì ở ngoài đời, mỗi sớm mai thức dậy, vợ ông xách làn đi chợ còn ông ở nhà chuẩn bị vận đồ, bơm xe sẵn sàng cho cuộc hành trình quanh làng làm thơ, uống rượu. Ông thú nhận là chỉ khi nào dắt bút vào túi, bỏ sổ vào giỏ xe thoát khỏi nhà, xa người vợ mà ông rất mực yêu thương thì ông mới làm được thơ và... uống rượu mới “tới đỉnh” được chút ít.

Có lần, ông đạp xe lên tận đầm Vạc, thuê hẳn một con thuyền dong ra giữa hồ uống rượu một mình, làm thơ một mình. Khi rượu đã cạn, thơ đã tràn ông lại giật giật dây thừng để chủ thuyền trong bờ “nhận ra tín hiệu mà kéo... người thơ vào bờ”.

Biết mà học, không bằng thích mà học...

Đi đến đâu ông cũng chỉ thích đàm đạo chuyện văn chương, đặc biệt là với các em thiếu nhi. Ông thường xuyên được các cơ quan, trường học mời đến nói chuyện về thơ. Trước các em, ông quên đi tuổi tác, sức khỏe, cứ rút ruột gan ra để nói, nói không biết chán...

Câu thơ nhặt được

     (thơ “ngoài thiếu nhi”)
     Cổng gài then lỏng bao ngày
     Đội mưa anh đến sáng nay buộc rồi
     Hay là em ngại gặp tôi
     Gọi đôi câu, chẳng một lời chào thưa
     Trở về đạp nắng non trưa
     Bất ngờ nhặt được câu thơ dọc đường
 

(Làng Bạch Trữ ngày 26/11/2009 - Nguyễn Công Dương)

Ngoài nói chuyện về thơ của mình, ông còn nói, giảng cho các em nghe về những điều chưa biết về một tác phẩm, một tác giả nào đó, đặc biệt là với những tác giả có tác phẩm in trong SGK. Bằng kinh nghiệm dạy học, làm thơ của chính mình, ông luôn lồng giữa những câu chuyện về văn chương là những câu dặn dò đầy tâm huyết. Ông dặn các em học phải đi đôi với hành, học không chỉ ở trong sách vở mà còn phải học mọi lúc mọi nơi, qua những tình huống thực tế trong đời sống, qua những cuộc đối thoại giữa trò với trò, trò với thầy và cố gắng tìm hiểu năng lực của nhau để dìu dắt nhau cùng tiến bộ.


“Tri chi giả bất như hiếu chi giả,hiếu chi giả bất như nhạo chi giả” (biết mà học, không bằng thích mà học, thích mà học không bằng vui say mà học). Việc học là của các em, vì chính các em chứ không vì ai khác. Chính các em cần phải hăng say, chủ động phát huy khả năng của mình và học có bài bản thì chắc chắn sẽ thành công.

Ngoài nói chuyện với các em học sinh, nhà thơ Nguyễn Công Dương cũng thường xuyên gặp gỡ các thầy cô giáo trực tiếp dạy các em để đàm đạo chuyện văn chương thơ phú, chuyện học hành của con trẻ. Ông cho rằng, dạy văn là phải làm hài hòa giữa lý thuyết và thực hành, giúp học sinh tiếp cận với văn chương chứ không phải “nhồi nhét, rót kiến thức vào đầu các em như... rót rượu vào chai”. Đặc biệt, cần phải phát hiện và tự động phân loại năng lực học sinh để chú trọng đánh thức khả năng sáng tạo của các em, cho các em, vì các em...

Cho đời nhớ được một câu... dễ gì

Ông bảo: “Thơ (nói chung) bây giờ giống như dòng suối rất nông, khuấy đục lên để chả ai biết là suối nông hay sâu nữa. Nhưng thực ra một dòng suối nông hay sâu bao nhiêu đi chăng nữa mà nước trong thì ta vẫn có thể nhìn thấy từng viên sỏi. Cái nông sâu của thơ văn nó cũng như vậy. Một bài thơ được nhiều người biết đấy là bài thơ hay, còn một bài thơ in đến cả trăm lần, một tác giả in hàng chục tập thơ nhưng không có một câu thơ nào để lại cho đời thì là thất bại trong nghiệp viết rồi. Tôi nghĩ, làm thơ là chuyện không hề đơn giản, không phải ai cũng làm được, dù chỉ một câu cho người đời nhớ. Nói như Huy Trụ là: Cho đời nhớ được một câu/ Bạc đầu người viết chắc đâu đã thành.

Tôi từng nói với nhà thơ Xuân Diệu: “Cái đanh của văn học đã đóng thì ít khi nhổ lên để đóng lại. Tôi vui vì “dọc đường thơ, thơ dọc đường” của tôi có một Lũy tre đã được nhiều thế hệ học sinh biết đến và yêu quý... Và, hạnh phúc của người làm thơ là chính là có thơ để cho người khác nhớ”!

Kỳ sau (Chủ nhật 13/12): Gặp lại tác giả Cái trống trường em - nhà thơ Thanh Hào.

Yên Khương

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm