Cuộc trò chuyện với nhà nghiên cứu Nguyễn Nam không chỉ nhằm nhìn lại một sự kiện chấn động thời bấy giờ - chuyện thiếu nữ tự tử - mà còn gợi mở nhiều thông tin để lý giải về mặt giáo dục, tâm lý và những tác động thực sự của văn chương, nghệ thuật vào xã hội ở mọi thời kỳ.
|
Nhà nghiên cứu Nguyễn Nam
|
- Phụ nữ Việt Nam đã trở thành một công chúng đọc mới vào đầu thế kỷ 20. Họ chính thức bước vào học đường, có diễn đàn công khai trên báo chí (khởi sự với Nữ giới chung, 1918); họ đọc tiểu thuyết, và có một bộ phận đọc được cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp.
Một trong những tác giả được dịch rất nhiều (đến trên 30 tác phẩm) vào thời kỳ này là Từ Chẩm Á (Trung Quốc). Truyện của Từ Chẩm Á có rất nhiều thơ ca, và những vần thơ dịch đã phần nào mang hơi thở Truyện Kiều qua ngòi bút tài hoa của các dịch giả Việt Nam. Tiểu thuyết Từ Chẩm Á mà tiêu biểu là Ngọc lê hồn và Tuyết hồng lệ sử đã làm rung động giới nữ với những tình tiết lãng mạn chưa từng thấy, và văn tài của người dịch cũng đã khiến họ say lòng.
Tiếng nói nữ quyền phát lên từ giữa thập niên 1910 ở Việt Nam đã tìm được minh họa cho những vấn đề mà nó bênh vực trong tác phẩm của Từ Chẩm Á. Tất nhiên cũng phải nói thêm rằng tiểu thuyết “ngôn tình” luôn có hai mặt: Nó có thể cảnh tỉnh người đọc trước hậu quả bi thương của mê ái, nhưng nó cũng có thể mê hoặc độc giả, khiến họ chết đắm trong biển tình của nhân vật tiểu thuyết. Tùy theo học vấn, tâm cảm, và ý thức của chủ thể đọc mà một trong hai mặt tích cực và tiêu cực của đồng xu tiểu thuyết ngôn tình sẽ lộ ra ánh sáng.
* Thật sự tác phẩm của Từ Chẩm Á có phải là nguyên nhân chính cho việc tự tử của thiếu nữ trẻ Việt Nam thời bấy giờ. Hay còn những nguyên do khác?
- Khoảng đầu thập niên 1930, khi phụ nữ tự sát đã trở thành “phong trào” hay “bệnh dịch”, người ta thường quay lại “quy tội” cho tiểu thuyết Từ Chẩm Á (đặc biệt là Tuyết hồng lệ sử) và Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách. Tất nhiên, việc phụ nữ tự sát có nhiều nguyên nhân, ví như do thất tình, hôn nhân sắp đặt, bạo hành gia đình, hay chế độ đa thê. Cũng phải kể đến những yếu tố khác, chẳng hạn như khủng hoảng kinh tế - xã hội năm 1932 dẫn đến thất nghiệp và đổ vỡ các hạt nhân gia đình. Xét ở một mức độ nhất định, phong trào tự sát là phản kháng tiêu cực của phong trào nữ quyền trước những áp chế xã hội - đạo đức đối với phụ nữ.
* Lý do thì có nhiều như vậy, theo ông tại sao thời bấy giờ người ta cứ quy kết tội cho tiểu thuyết? Phải chăng tiểu thuyết là cái gì đó quá xa xỉ thời đó, trong một xã hội Việt Nam mà phần lớn còn mù chữ?
- Có thể lý giải vấn đề này theo nhiều cách khác nhau. Ở đây, chỉ xin trình bày một cách nhìn. Báo chí Việt Nam đầu thế kỷ 20 luôn có một vài cột (columns) hay thậm chí cả trang dành cho các vấn đề nữ quyền như bình đẳng nam - nữ, giải phóng phụ nữ.
Nữ quyền được cổ vũ, nhưng thường đi kèm với những lời cảnh cáo không nên đi quá đà. Các vấn đề nữ quyền hàm chứa trong tiểu thuyết hẳn nhiên đi vào lòng bạn đọc nữ dễ dàng hơn nhiều so với những bài luận thuyết khô khan. Việc hình thành cộng đồng bạn đọc nữ và việc họ công khai khẳng định quyền đọc tiểu thuyết là những việc chưa từng có trước đây.
Tranh biếm họa việc tự tử thời bấy giờ.
* Vậy thì, dưới góc độ xã hội học, ông nghĩ việc tự tử có tác động gì vào việc thay đổi văn học, xã hội thời bấy giờ? Hay chỉ là một “mốt” thời thượng?
- Việc phụ nữ tự sát và ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của tiểu thuyết đối với hiện tượng này trong xã hội hiện đại là một hiện tượng phổ quát xảy ra cả ở phương Đông và phương Tây. Việc hình thành cộng đồng bạn đọc nữ và những yêu cầu của họ đã dẫn đến những thay đổi nhất định trong sáng tác văn chương. Chủ thể độc giả nữ không ngừng chuyển hóa, tự ý thức và tự điều chỉnh theo những biến đổi văn hóa - xã hội mà chủ nghĩa nữ quyền là một bộ phận. Tất nhiên, có một số trường hợp phụ nữ tự tử nơi công cộng như hồ Gươm để được cứu sống, nhưng phụ nữ tự sát không phải là chuyện thời thượng, mà là một phản ứng (dẫu có phần lệch lạc) trước những xung đột cũ - mới, giữa nam quyền và nữ quyền nhằm tái khẳng định chủ thể xã hội và chủ thể đọc của “một nửa thế giới” trong xã hội hiện đại.
Tự tử ở hồ Trúc Bạch
qua con mắt Vũ Trọng Phụng Vấn nạn tự tử của các tiểu thư tân thời hồi đầu thế kỷ 20 do ảnh
hưởng của phong trào Âu hóa đã được Vũ Trọng Phụng giễu cợt trong Số đỏ: |
|
Phụ nữ tự sát trở
thành đề tài cho tiểu thuyết, truyện ngắn ví như: Nước hồ Gươm của Lan
Khai (1928), Quanh hồ Hoàn Kiếm
của Tâm Việt (1929), Giọt lệ sông
Hương
(hay Minh Châu lệ sử) của Tam
Lang Vũ Đình Chí (1930), Giấc mộng hồ
Gươm
của Th.Sơn (1931), Lệ Hồng quyên sinh
của T.L. (1932), Chưa chết được
của Tế Xuyên (1933), hay Cái chết hiếu
danh của Lưu Trọng Lư (1934). |