(TT&VH) - Sau hơn 2 năm điều tra với 4 bản kết luận điều tra, vụ án xảy ra tại vũ trường New Century (NC) đã được TAND Q. Hoàn Kiếm đưa ra xét xử sơ thẩm từ ngày 24/8. Hôm 26/8, phiên tòa kết thúc phần tranh tụng, các bị cáo được nói lời cuối cùng tại tòa.
Các bị cáo liên quan đến ma túy đã thành khẩn nhận tội, trong khi đó chủ vũ trường Nguyễn Đại Dương chỉ khai nhận mình "lách luật" chứ không “phạm luật".
Miễn truy tố hành vi chưa chấp sử dụng chất ma túy trái phép
Vào khoảng 1h ngày 28/4/2007 Cục Cảnh sát tội phạm ma túy C17 Bộ Công an đã tập kích vũ trường NC tại số 10B Tràng Thi, Hoàn Kiếm, bắt quả tang Lê Thị Kim Anh tàng trữ 4,5 viên ma túy tổng hợp, thu giữ 104 viên ma túy tổng hợp tại vũ trường, lấy mẫu nước tiểu của 1.175 người (751 nam, 424 nữ) có mặt tại vũ trường, xác định 239 mẫu có kết quả dương tính với ma túy.
Cáo trạng của Viện KSND Quận Hoàn Kiếm khẳng định trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến 28/4/2007 đã có 30 đối tượng là khách đến vũ trường khai nhận đã sử dụng ma túy nhưng không bị ai bắt giữ. Tuy nhiên lời khai của các đối tượng trên không xác định được nhân viên cụ thể nào của vũ trường biết việc các đối tượng trên sử dụng ma túy mà làm ngơ và không xử lý. Trong quá trình hoạt động tại vũ trường, các nhân viên phát hiện thấy khách đến vũ trường vi phạm về ma túy đều bắt giữ chuyển giao công an phường Hàng Trống xử lý. Riêng tối 27/4/2007 đã kiểm tra nhưng không phát hiện bắt giữ được đối tượng nào tàng trữ, sử dụng ma túy trong vũ trường.
Nguyễn Đại Dương tự bào chữa tại phiên tòa
Tối ngày 27/4/2007, Nguyễn Đại Dương có mặt và làm việc tại vũ trường, nhưng không được các nhân viên và người quản lý dưới quyền báo cáo việc khách sử dụng trái phép chất ma túy, vì vậy không biết số đối tượng trên đã sử dụng trái phép chất ma túy tại vũ trường. Kế toán vũ trường Phùng Lam Sơn cũng làm việc tại vũ trường nhưng chỉ tiếp khách ở tầng 3 và không được nhân viên báo cáo việc 30 đối tượng khách sử dụng trái phép chất ma túy.
Quá trình điều tra cũng không làm rõ được mối quan hệ giữa 30 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy với các nhân viên và người quản lý của vũ trường. Đồng thời, tại thời điểm kết thúc điều tra và xử lý vụ án tại điểm 7.2 mục 7 của thông tư liên tịch số 17/TTLT ngày 24/12/2008 quy định: "Có bất kỳ hành vi nào khác chưa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là trường hợp người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lý, biết người khác là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, tuy không cho họ thuê mượn địa điểm nhưng lại để mặc cho họ 2 lần sử dụng trái phép chất ma túy trở lên hoặc để mặc cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy".
Vì vậy Viện KSND Q. Hoàn Kiếm đã ra quyết định đình chỉ điều tra (miễn trách nhiệm hình sự) đối với Nguyễn Đại Dương và Phùng Lam Sơn về tội chưa chấp sử dụng trái phép chất ma túy.
Kinh doanh rượu: lách luật hay phạm luật?
Ngày 7/5/2007, Cơ quan điều tra khi tiến hành kiểm tra khám xét NC đã thu giữ 497 chai rượu tại tầng 2 và 3 của vũ trường. Giám định của Viện Khoa học Hình sự Bộ CA kết luận: 497 chai rượu bị thu giữ là các loại rượu có nhãn hiệu nước ngoài như: Hennessy V.S.O.P, Chivas, Remy Martin Club, Johnnie W alker Red Label, Martell, Bailey, Absolut, JB, Bacardi... có 76 chai tem giả; không phát hiện rượu giả.
Kết quả điều tra đã xác định, kể từ ngày hoạt động, vũ trường NC thường xuyên mua bán rượu các loại; ngày 15/8/2005 UBND Q. Hoàn Kiếm đã kiểm tra phát hiện NC không có giấy phép kinh doanh rượu nên đã ra quyết định số 1105 xử phạt hành chính 1 triệu đồng. Sau đó, Nguyễn Đại Dương đã liên hệ với sở Thương mại Hà Nội đề nghị xin cấp giấy phép kinh doanh rượu tại số 10B Tràng Thi. Mặc dù không được cấp giấy phép nhưng trong thời gian từ tháng 9/2005 đến 28/4/2007 Nguyễn Đại Dương đã tiếp tục tổ chức cho nhân viên vũ trường mua bán 2.496 chai rượu các loại với doanh thu hơn 2,7 tỷ đồng. Cụ thể: từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2005 vũ trường đã bán 46 chai rượu thu 42,35 triệu đồng, năm 2006 bán 1512 chai rượu thu trên 1 tỷ 573 triệu đồng; từ tháng 1 đến 28 tháng 4 năm 2007 bán 938 chai rượu thu trên 1 tỷ 161 triệu. Các số liệu này được Cơ quan điều tra xác định khi tiến hành thu giữ và mở niêm phong, trích in các số liệu trong 3 máy tính lưu trữ hoạt động thu ngân ở vũ trường.
Bảy bị cáo thuộc nhóm liên quan đến ma túy thành khẩn nhận tội
Công tố viên khẳng định, mặc dù Nguyễn Đại Dương không thừa nhận hành vi kinh doanh rượu trái phép nhưng căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được như các hóa đơn, bản kê thu được và lời khai nhận của các nhân viên mua bán hàng Vũ Nam Sơn, Lê Kim Anh, Nguyễn Cẩm Giang và Phùng Lam Sơn xác định trong vũ trường đều bán, thu tiền bán rượu theo đơn vị chai, việc bán rượu có giấy phép hay không, Nguyễn Đại Dương không cho họ biết. Tại mục IV, thông tư 12/1999/TT-BTM ngày 19/5/1999 của Bộ thương mại nay là Bộ Công Thương quy định: "Thương nhân chỉ được hoạt động mua bán hoặc đại lý mua bán rượu các loại trên thị trường sau khi đã đăng kí kinh doanh và có giấy phép kinh doanh rượu do Sở Thương mại tỉnh, thành phố cấp theo quy định tại thông tư này".
Ngày 3/5/2007 Sở Thương mại Hà Nội có báo cáo gửi UBND Thành phố có nội dung: "Giữa năm 2006 nhân viên của Cty TNHH Hoa Phượng Thăng Long có đến Sở Thương mại Hà Nội để hỏi thủ tục xin cấp giấy phép kinh doanh rượu thuốc lá tại vũ trường NC. Căn cứ vào chỉ thị số 17 và 16, Sở đã trả lời tạm thời không cấp giấy phép kinh doanh rượu, thuốc lá trong trong các vũ trường, karaoke, quán bar. Do vậy, việc kinh doanh rượu thuốc lá của vũ trường NC là kinh doanh không có giấy phép và trái với quy định của pháp luật".
Qua ba ngày xét xử, chủ vũ trường và các luật sư bào chữa đã đưa ra nhiều lời khai và bào chữa để chứng minh NC chỉ kinh doanh “lách luật” mà không kinh doanh trái phép như bản cáo trạng truy tố.
Luật sư Nguyễn Minh Tâm (Đoàn luật sư TP. HCM), bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đại Dương cho rằng Viện KSND áp dụng Thông tư số 12 ngày 19/5/1999 của Bộ Thương mại (đã hết hiệu lực) để làm căn cứ cáo buộc Dương kinh doanh trái phép là không phù hợp. Thông tư số 12 quy định cấm bán rượu ở một số địa điểm trong đó có vũ trường. Nhưng tại Thông tư số 10/2008 của Bộ Công Thương (đang có hiệu lực) đã bãi bỏ quy định cấm này. Nghị định số 11 của Chính phủ (đã hết hiệu lực) quy định “rượu là loại hàng hóa hạn chế kinh doanh” nhưng tại Nghị định 40/2008 (đang có hiệu lực) cũng đã loại bỏ hạn chế này. “Nếu áp dụng Thông tư số 12, tại sao Cục thuế TP Hà Nội vẫn thu thuế kinh doanh rượu tại vũ trường NC?”
Tự bào chữa cho mình, chủ vũ trường cho rằng đã nhiều lần kiến nghị Viện KSND Q. Hoàn Kiếm chứng minh bị cáo kinh doanh rượu trái phép hay kinh doanh trái phép rượu trên 30 độ cồn. Nguyễn Đại Dương khẳng định: Rượu mua vào là một chai thành phẩm trên 30 độ cồn, nhưng khi bán ra cho khách là một gói dịch vụ bao gồm: chai rượu và các sản phẩm phụ đi kèm (như Sô-đa,Coca nước tinh khiết, nước đá); dịch vụ chăm sóc của nhân viên; xem ca nhạc; phục vụ khách nhảy trên nền nhạc Disco... Để đảm bảo rượu dưới 30 độ cồn, nhân viên phục vụ khi mang cốc ra bao giờ cũng phải có đá lạnh trong ly. Khi đông khách nhất, mỗi nhân viên cũng chỉ được phục vụ hai bàn, để đảm bảo việc “gắp đá” vào ly cho khách. Nguyễn Đại Dương cho rằng mình không có nghĩa vụ chứng minh cáo buộc của VKS là rượu trong vũ trường bán ra là trên 30 độ cồn mà VKS phải có trách nhiệm chứng minh điều đó.
Luật sư bào chữa cũng viện dẫn Nghị định số 06 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh rượu, thuốc lá: “nếu quá một năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh rượu”. Theo quy định trên, đến thời điểm 28/4/2007, vũ trường NC được coi là chưa bị xử phạt hành chính về kinh doanh rượu. Do đó, cáo trạng đưa tình tiết này vào đã không có ý nghĩa chứng minh trong việc cáo buộc hành vi của Nguyễn Đại Dương.
Tuy nhiên, Viện KSND Quận Hoàn Kiếm vẫn giữ nguyên quan điểm, theo đó, công tố viên đề nghị HĐXX tuyên phạt bị cáo Nguyễn Đại Dương mức án từ 12 đến 18 tháng tù giam, các bị cáo trong nhóm ma túy mức án từ 2 năm đến 8 năm 6 tháng. Ngày 28/8, Tòa sẽ chính thức tuyên án.
Các bị cáo liên quan đến ma túy đã thành khẩn nhận tội, trong khi đó chủ vũ trường Nguyễn Đại Dương chỉ khai nhận mình "lách luật" chứ không “phạm luật".
Miễn truy tố hành vi chưa chấp sử dụng chất ma túy trái phép
Vào khoảng 1h ngày 28/4/2007 Cục Cảnh sát tội phạm ma túy C17 Bộ Công an đã tập kích vũ trường NC tại số 10B Tràng Thi, Hoàn Kiếm, bắt quả tang Lê Thị Kim Anh tàng trữ 4,5 viên ma túy tổng hợp, thu giữ 104 viên ma túy tổng hợp tại vũ trường, lấy mẫu nước tiểu của 1.175 người (751 nam, 424 nữ) có mặt tại vũ trường, xác định 239 mẫu có kết quả dương tính với ma túy.
Cáo trạng của Viện KSND Quận Hoàn Kiếm khẳng định trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến 28/4/2007 đã có 30 đối tượng là khách đến vũ trường khai nhận đã sử dụng ma túy nhưng không bị ai bắt giữ. Tuy nhiên lời khai của các đối tượng trên không xác định được nhân viên cụ thể nào của vũ trường biết việc các đối tượng trên sử dụng ma túy mà làm ngơ và không xử lý. Trong quá trình hoạt động tại vũ trường, các nhân viên phát hiện thấy khách đến vũ trường vi phạm về ma túy đều bắt giữ chuyển giao công an phường Hàng Trống xử lý. Riêng tối 27/4/2007 đã kiểm tra nhưng không phát hiện bắt giữ được đối tượng nào tàng trữ, sử dụng ma túy trong vũ trường.

Tối ngày 27/4/2007, Nguyễn Đại Dương có mặt và làm việc tại vũ trường, nhưng không được các nhân viên và người quản lý dưới quyền báo cáo việc khách sử dụng trái phép chất ma túy, vì vậy không biết số đối tượng trên đã sử dụng trái phép chất ma túy tại vũ trường. Kế toán vũ trường Phùng Lam Sơn cũng làm việc tại vũ trường nhưng chỉ tiếp khách ở tầng 3 và không được nhân viên báo cáo việc 30 đối tượng khách sử dụng trái phép chất ma túy.
Quá trình điều tra cũng không làm rõ được mối quan hệ giữa 30 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy với các nhân viên và người quản lý của vũ trường. Đồng thời, tại thời điểm kết thúc điều tra và xử lý vụ án tại điểm 7.2 mục 7 của thông tư liên tịch số 17/TTLT ngày 24/12/2008 quy định: "Có bất kỳ hành vi nào khác chưa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là trường hợp người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lý, biết người khác là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, tuy không cho họ thuê mượn địa điểm nhưng lại để mặc cho họ 2 lần sử dụng trái phép chất ma túy trở lên hoặc để mặc cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy".
Vì vậy Viện KSND Q. Hoàn Kiếm đã ra quyết định đình chỉ điều tra (miễn trách nhiệm hình sự) đối với Nguyễn Đại Dương và Phùng Lam Sơn về tội chưa chấp sử dụng trái phép chất ma túy.
Kinh doanh rượu: lách luật hay phạm luật?
Ngày 7/5/2007, Cơ quan điều tra khi tiến hành kiểm tra khám xét NC đã thu giữ 497 chai rượu tại tầng 2 và 3 của vũ trường. Giám định của Viện Khoa học Hình sự Bộ CA kết luận: 497 chai rượu bị thu giữ là các loại rượu có nhãn hiệu nước ngoài như: Hennessy V.S.O.P, Chivas, Remy Martin Club, Johnnie W alker Red Label, Martell, Bailey, Absolut, JB, Bacardi... có 76 chai tem giả; không phát hiện rượu giả.
Kết quả điều tra đã xác định, kể từ ngày hoạt động, vũ trường NC thường xuyên mua bán rượu các loại; ngày 15/8/2005 UBND Q. Hoàn Kiếm đã kiểm tra phát hiện NC không có giấy phép kinh doanh rượu nên đã ra quyết định số 1105 xử phạt hành chính 1 triệu đồng. Sau đó, Nguyễn Đại Dương đã liên hệ với sở Thương mại Hà Nội đề nghị xin cấp giấy phép kinh doanh rượu tại số 10B Tràng Thi. Mặc dù không được cấp giấy phép nhưng trong thời gian từ tháng 9/2005 đến 28/4/2007 Nguyễn Đại Dương đã tiếp tục tổ chức cho nhân viên vũ trường mua bán 2.496 chai rượu các loại với doanh thu hơn 2,7 tỷ đồng. Cụ thể: từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2005 vũ trường đã bán 46 chai rượu thu 42,35 triệu đồng, năm 2006 bán 1512 chai rượu thu trên 1 tỷ 573 triệu đồng; từ tháng 1 đến 28 tháng 4 năm 2007 bán 938 chai rượu thu trên 1 tỷ 161 triệu. Các số liệu này được Cơ quan điều tra xác định khi tiến hành thu giữ và mở niêm phong, trích in các số liệu trong 3 máy tính lưu trữ hoạt động thu ngân ở vũ trường.

Công tố viên khẳng định, mặc dù Nguyễn Đại Dương không thừa nhận hành vi kinh doanh rượu trái phép nhưng căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được như các hóa đơn, bản kê thu được và lời khai nhận của các nhân viên mua bán hàng Vũ Nam Sơn, Lê Kim Anh, Nguyễn Cẩm Giang và Phùng Lam Sơn xác định trong vũ trường đều bán, thu tiền bán rượu theo đơn vị chai, việc bán rượu có giấy phép hay không, Nguyễn Đại Dương không cho họ biết. Tại mục IV, thông tư 12/1999/TT-BTM ngày 19/5/1999 của Bộ thương mại nay là Bộ Công Thương quy định: "Thương nhân chỉ được hoạt động mua bán hoặc đại lý mua bán rượu các loại trên thị trường sau khi đã đăng kí kinh doanh và có giấy phép kinh doanh rượu do Sở Thương mại tỉnh, thành phố cấp theo quy định tại thông tư này".
Ngày 3/5/2007 Sở Thương mại Hà Nội có báo cáo gửi UBND Thành phố có nội dung: "Giữa năm 2006 nhân viên của Cty TNHH Hoa Phượng Thăng Long có đến Sở Thương mại Hà Nội để hỏi thủ tục xin cấp giấy phép kinh doanh rượu thuốc lá tại vũ trường NC. Căn cứ vào chỉ thị số 17 và 16, Sở đã trả lời tạm thời không cấp giấy phép kinh doanh rượu, thuốc lá trong trong các vũ trường, karaoke, quán bar. Do vậy, việc kinh doanh rượu thuốc lá của vũ trường NC là kinh doanh không có giấy phép và trái với quy định của pháp luật".
Qua ba ngày xét xử, chủ vũ trường và các luật sư bào chữa đã đưa ra nhiều lời khai và bào chữa để chứng minh NC chỉ kinh doanh “lách luật” mà không kinh doanh trái phép như bản cáo trạng truy tố.
Luật sư Nguyễn Minh Tâm (Đoàn luật sư TP. HCM), bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đại Dương cho rằng Viện KSND áp dụng Thông tư số 12 ngày 19/5/1999 của Bộ Thương mại (đã hết hiệu lực) để làm căn cứ cáo buộc Dương kinh doanh trái phép là không phù hợp. Thông tư số 12 quy định cấm bán rượu ở một số địa điểm trong đó có vũ trường. Nhưng tại Thông tư số 10/2008 của Bộ Công Thương (đang có hiệu lực) đã bãi bỏ quy định cấm này. Nghị định số 11 của Chính phủ (đã hết hiệu lực) quy định “rượu là loại hàng hóa hạn chế kinh doanh” nhưng tại Nghị định 40/2008 (đang có hiệu lực) cũng đã loại bỏ hạn chế này. “Nếu áp dụng Thông tư số 12, tại sao Cục thuế TP Hà Nội vẫn thu thuế kinh doanh rượu tại vũ trường NC?”
Tự bào chữa cho mình, chủ vũ trường cho rằng đã nhiều lần kiến nghị Viện KSND Q. Hoàn Kiếm chứng minh bị cáo kinh doanh rượu trái phép hay kinh doanh trái phép rượu trên 30 độ cồn. Nguyễn Đại Dương khẳng định: Rượu mua vào là một chai thành phẩm trên 30 độ cồn, nhưng khi bán ra cho khách là một gói dịch vụ bao gồm: chai rượu và các sản phẩm phụ đi kèm (như Sô-đa,Coca nước tinh khiết, nước đá); dịch vụ chăm sóc của nhân viên; xem ca nhạc; phục vụ khách nhảy trên nền nhạc Disco... Để đảm bảo rượu dưới 30 độ cồn, nhân viên phục vụ khi mang cốc ra bao giờ cũng phải có đá lạnh trong ly. Khi đông khách nhất, mỗi nhân viên cũng chỉ được phục vụ hai bàn, để đảm bảo việc “gắp đá” vào ly cho khách. Nguyễn Đại Dương cho rằng mình không có nghĩa vụ chứng minh cáo buộc của VKS là rượu trong vũ trường bán ra là trên 30 độ cồn mà VKS phải có trách nhiệm chứng minh điều đó.
Luật sư bào chữa cũng viện dẫn Nghị định số 06 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh rượu, thuốc lá: “nếu quá một năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh rượu”. Theo quy định trên, đến thời điểm 28/4/2007, vũ trường NC được coi là chưa bị xử phạt hành chính về kinh doanh rượu. Do đó, cáo trạng đưa tình tiết này vào đã không có ý nghĩa chứng minh trong việc cáo buộc hành vi của Nguyễn Đại Dương.
Tuy nhiên, Viện KSND Quận Hoàn Kiếm vẫn giữ nguyên quan điểm, theo đó, công tố viên đề nghị HĐXX tuyên phạt bị cáo Nguyễn Đại Dương mức án từ 12 đến 18 tháng tù giam, các bị cáo trong nhóm ma túy mức án từ 2 năm đến 8 năm 6 tháng. Ngày 28/8, Tòa sẽ chính thức tuyên án.
Mạnh Cường