(Bài dự thi)- Buổi sáng, trời lác đác mưa. Trên sông, một con đò ngang chở khách đôi bờ. Ông chủ đò vận áo nâu giản dị, kiệm lời, lặng lẽ đưa con đò cần mẫn qua lại đôi bờ lục bình trôi
1. Đêm nghe sông chảy
Tôi đến xứ đạo Kiện Khê – Thanh Liêm – Hà Nam vào một ngày cuối mùa hoa gạo. Những cây gạo thân mốc xù bên đường làng thắp những bông hoa cuối cùng của mùa xen lẫn màu lá biếc. Hoa gạo ở đây có màu rất lạ: Không đỏ thẫm như trong thi ca, mà có màu vàng đỏ. Có cây gạo còn nở hoa màu vàng nghệ. “Tại sao hoa gạo ở đây không đỏ chót như hoa gạo quê mình?” – Tôi thắc mắc. Cậu em tôi cười :“Có thể do thổ nhưỡng khác biệt…có thể có những loại cây gạo nở những màu hoa khác nhau…” Tôi im lặng, ngắm những bông gạo cuối mùa, phải chăng lời cậu em trai có lý? Nhưng người đàn ông ngồi bên máy vi tính trong quán game bên cây gạo thì cười bảo “Không phải đâu. Hồi trước nó nở hoa rất đỏ. Bây giờ nó già quá nên nở hoa màu vàng đấy…”
Nhà anh họ tôi, thật tuyệt – Tôi cho là như thế - nằm ngay bên bờ sông Đáy, con sông huyền thoại của một vùng quê đồng trắng nước trong, con sông trong hoài niêm thời thơ ấu của mẹ tôi : Nước trong soi thấu đáy.
Nơi ngôi nhà của anh tôi toạ lạc trước đây từng thuộc về dòng sông. Một phần tư thế kỉ trước dòng sông đã trải mình đến tận nơi này: Mênh mang…trong trẻo. Tôi chợt nhớ ngọn núi trên một cánh đồng quê nhà: Trước đây người ta đã tìm thấy vỏ ốc thời tiền sử trong những khe đá. Những vỏ ốc biển trên núi là chứng tích của một phen vận đổi sao dời, sông sâu thành núi cao và ngược lại. Ngàn năm núi lở sông bồi, biển xanh đã hoá nương dâu…Đêm đêm , khi những âm thanh ồn ã của một ngày lắng xuống, những người trong những ngôi nhà im lìm kia , có ai còn nghe thấy tiếng dòng sông đang chảy? - Dòng sông chưa xa. Chỉ một phần tư thế kỉ đã co mình lại nhường chỗ cho những ngôi nhà…
Một cư dân xứ đạo kể cho tôi nghe rằng cách đây rất lâu rồi, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã về đây. Ông giản dị, chân chất như một lão nông, nhưng giọng nói hào sảng. kiên quyết đầy uy lực . Giọng nói đó còn âm vang bên dòng sông, trong kí ức của những người bây giờ thời ấy còn trai trẻ. Lại một câu chuyện nữa kể rằng: Khi dòng sông còn rộng mở mênh mang ấy, có một nữ nhà thơ lớn của đất nước đã từng tự tay chèo một con thuyền lênh đênh trên dòng sông. Nữ thi sĩ đã đắm mình trong mênh mông sông nước. Và phải chăng đó là nơi một bài thơ bất tử đã ra đời?
Tôi không ngủ được trong đêm bên bờ sông ấy. Và khi triều lên, nước mơn man vỗ nhẹ vào bờ, tôi lắng nghe tiếng dòng sông đang chảy.

2. Lênh đênh một chuyến đò ngang
Buổi sáng, trời lác đác mưa. Trên sông, một con đò ngang chở khách đôi bờ. Ông chủ đò vận áo nâu giản dị, kiệm lời, lặng lẽ đưa con đò cần mẫn qua lại đôi bờ lục bình trôi. Khách sang sông là những bà, những chị ở bên kia La Mát sang bên này chợ Kiện Khê. Mỗi chuyến qua sông ông đò chỉ thu 1000 đồng phí chở. Tôi cũng ngồi trên chuyến đò ấy , để khi con đò từ từ trôi, tôi có thể cảm nhận được hơi thở của dòng sông phả vào trái tim mình. Triều xuống, những dòng lục bình trôi xuôi. Người đàn bà ngồi bên tôi trên đò kể: “Trước đây sông rộng lắm. Rộng lắm. Bây giờ chỉ có bấy nhiêu thôi.”
Hai bên bờ sông, những con tàu máy rộn ràng bốc than và đá vôi từ bờ kia La Mát sang bờ này Kiện Khê. Đá và than là nguyên liệu cho những lò nung vôi trải dài suốt dọc bờ sông chừng năm cây số. “Dòng sông thu mình lại từ đó…” Từ những lò nung vôi và chất thải. Người ta đã dần lấn sông, biến bờ sông một thuở duyên dáng trữ tình thành đôi bờ chỉ thấy nhấp nhô , thò thụt những bờ tường kè đá lấn sông, những bãi tập kết nguyên liệu thô cứng và cơ man rác thải sinh hoạt. Hỏi chuyện những người làm công cho những lò vôi, được biết: Người Kiện Khê vẫn trồng lúa, những lúc nông nhàn, họ làm công cho những lò vôi lớn nhỏ bên sông. Ba mươi nghìn đồng cho mười giờ đồng hồ đội những thúng vôi nặng trung bình 60kg trên đầu.Những người làm công việc bốc vác trên tàu thì thu nhập khoảng 80 đến 100 nghìn đồng một ngày. Tuy nhiên, trừ những chi phí sinh hoạt, mỗi ngày một người thợ bốc vác chỉ mang về được khoảng 30 nghìn cho vợ con. Nói chung, cuộc sống của người dân vẫn còn nhiều vất vả. Riêng với dòng sông Đáy qua làng thì những bức tường lấn sông, những bãi nguyên và phế liệu , những lò cao, những chiếc cần cẩu vươn những cánh tay dài…đã gặm nhấm bờ sông nham nhở như thế đó.
Một góc nhỏ bên sông đậu lặng lờ mấy chiếc thuyền con. Người đàn bà trên bến đò bảo : Đó là làng chài. Trước đây nghề chài lưới đã rất thịnh trên quãng sông này. “Tại sao bây giờ lại hiu hắt thế ạ? Người ta không còn muốn làm nghề này nữa ư bác?” Người đàn bà cười vào cái mặt ngác ngơ của tôi: “Không phải không muốn, có muốn cũng không được…Cá trên sông đã chết hết từ lâu rồi” Người đàn bà ngậm ngùi: “Năm nào cũng thế, cứ độ cuối năm là nước ô nhiễm từ phía Hà Nội thải về. Cá tôm có còn sống cũng chả ai dám mang về nấu ăn. Làng chài cũng bỏ nghề dần từ đấy. Mai này nữa, chắc gì những nhà thuyền kia đã còn trụ lại…”
Người đàn bà lại bảo: Đã có biết bao nhà báo về đây quay phim, chụp ảnh, phỏng vấn, viết bài, nhưng đều lặng lẽ ra đi. Dòng sông thì vẫn ngày một bị xâm hại.
Ai đã và đang giết chết dòng sông? Dòng sông một thời mênh mang, một thời nước trong như chưa bao giờ trong đến thế… “Ai đang giết chết dòng sông?” – Câu hỏi đó đau đáu trong lòng năm vị khách phương xa bên dòng sông chiều ấy. Tóc tôi còn xanh, nhưng tóc của bốn người kia đã bạc. Bốn mái đầu bạc và một mái đầu xanh đứng bên dòng sông nhìn mặt trời lặn xuống ngọn núi Mỏ Đá, nơi người ta khai thác nguyên liệu để nung vôi. Nước triều đang lên.Nhưng đám lục bình trôi xuôi khi sáng lại đang trôi ngược lại. Những mái đầu bạc vẫn chìm đắm trong suy tư, kí ức của một thời…
“Ai đang giết chết dòng sông?” Tất cả. Tất cả mọi người đều đang giết chết dòng sông. Để một ngày nào đó không xa, thế hệ trẻ sẽ không còn khái niệm về những dòng sông trong vắt nữa.
“Tại sao người ta lại gọi là sông Đáy hả mẹ?” Ngày xưa tôi đã hỏi mẹ tôi như thế. Bà cười rất tự hào “Vì nước sông rất trong. Trong thấu đáy”.
Phạm Thanh Thuý