(Bài dự thi) - Chuyến đi của tôi đã lùi xa hơn 40 năm. Nhưng những gì diễn ra giữa cha con tôi và anh- một người lính sắp ra mặt trận thì tôi không thể nào quên. Sau này, nhiều lần tôi tự hỏi, anh có còn sống không và nếu còn thì đang ở đâu ?
Cha tôi nguyên là hiệu trưởng một trường trung học chuyên nghiệp. Thời chiến tranh, ông luôn phải cùng nhà trường di chuyển tới nhiều địa phương để tránh bom đạn. Mùa đông năm ấy, gia đình tôi sơ tán ở Nga Nhân - Nga Sơn (Thanh Hóa). Cha đưa tôi ra Hà Nội ở với người chị cả để đi học. Thời ấy, phương tiện đi lại chủ yếu là xe đạp. Và cũng phải đi đêm để tránh máy bay. Hôm đó, vì phải chở đồ nên cha buộc quần áo cũ lên cái sườn ngang xe đạp để tôi ngồi cho đỡ đau rồi chúng tôi khởi hành. Đường rất vắng. Chắc để đỡ buồn ngủ nên cha tôi vừa đi vừa. . . hát. Ông hát những bài từ thời kháng chiến chống Pháp. Dưới ánh trăng lạnh lẽo con đường chạy vắt qua những ruộng khoai, ruộng lúa. Thỉnh thoảng đi qua những mái tranh lụp sụp ven đường, nghe tiếng trẻ con khóc, tiếng chó sủa, tôi cảm thấy vững dạ. Chúng tôi đi qua cầu Báo Văn- cây cầu nhỏ thôi nhưng là mục tiêu của máy bay Mỹ. Xung quanh cầu có nhiều hố bom sâu chồng lên nhau.
Chúng tôi tới ga xe lửa vào khoảng 9 giờ. Nhà ga tối thui, chỉ có ngọn đèn hạt đỗ trong phòng bán vé. Trời rét căm căm. Khách đợi tàu co cụm trước mái hiên để tránh gió bấc. Một chiếc tàu chở than đen trũi đứng im lìm như con quái vật khổng lồ. Cha tôi mua vé rồi bảo tôi ngồi đợi để ông đi đâu đó. Thì ra ông đi mua thuốc lào (Cha tôi nghiện thuốc lào nặng). Chính mồi thuốc lào lập lòe của cha đã thu hút một người lính trẻ, mang ba lô nặng đến gần chúng tôi. Hai người nhanh chóng trở nên thân mật vì cùng sở thích. . . hút thuốc lào. Anh lính tên Sài- cái tên lạ tai nên đến giờ tôi vẫn còn nhớ. Câu chuyện vừa bắt đầu thì nhà ga thông báo tàu ra Hà Nội 1 giờ sáng mới có. Anh bảo cha tôi" Tàu trễ mà ta ngồi đây thì rét lắm chú ạ. Hay cháu đi tìm chỗ nào kín gió để ta ngồi cho ấm". Rồi anh đi. Khi anh trở lại, cha con tôi theo anh đến một dãy nhà đang xây dở nằm sát mặt đường. Chúng tôi vào một căn phòng trống có khá nhiều những thanh gỗ dài. Mùi gỗ ngâm, mùi vôi vữa lập tức xông vào mũi chúng tôi. Anh bộ đội bảo "Ta nghỉ tạm đây chú ạ. Có thể chợp mắt được mấy tiếng đồng hồ đấy". Rồi anh loay hoay kê những thanh gỗ dài thành một cái" giường" để xếp hành lý.
Xong xuôi, anh bảo tôi" Nào cô bé, em có thể ngủ được rồi. Cái giường này cũng tươm ra phết". Tôi kêu đói vì hồi chiều chỉ ăn một bát cơm. Cha tôi bảo hai anh em ngồi đợi để ông đi tìm thứ lót dạ. Trong lúc cha đi, anh bảo tôi "Nào. Nằm xuống. Anh thấy em ngáp sái quai hàm rồi đấy. Lúc nào bố về anh sẽ gọi dậy". Tôi nằm xuống. Nhưng bầy muỗi đói cứ vo ve bên tai. Anh lấy trong ba lô mấy bộ quân phục dày, đắp lên người tôi. "Giờ thì tha hồ ấm mà muỗi chỉ có khóc. Chà, hai cái chân như chân chim thế này chắc là chạy nhanh lắm đây. Em học lớp mấy rồi ?". "Em học lớp hai" - Tôi nói. Anh chép miệng"Thằng em anh lớn tướng rồi mà cũng mới học lớp hai. Nó lười nên học dốt lắm".
Cha tôi trở về, mang theo mấy cái bánh chưng nguội ngắt, chỉ nhỉnh hơn bao diêm. Cha hỏi"Chú về phép à?". Anh vừa ăn bánh, vừa trả lời "Cháu sắp đi B. Vừa rồi kiểm tra bắn đạn thật cháu đạt ba điểm 10, được đơn vị thưởng cho 3 ngày phép. Cháu tranh thủ về thăm u với thằng em, nhân thể mang cho u cháu cái áo dệt kim mặc cho ấm. Nghe nói trong Nam không có mùa đông nên cũng chẳng cần. Với lại, cháu có áo bông rồi. U cháu bị hen (suyễn), mùa rét này thở không được, tội nghiệp lắm". "Thế ông cụ chú đâu?" - Cha lại hỏi. Anh im lặng một lúc mới trả lời: "Thày cháu có hai vợ. Bà lớn không có con trai nên ông ấy lấy vụng thêm u cháu. Thày cháu vẫn ở với bà lớn".
Câu chuyện giữa cha tôi và anh hơi trầm xuống. Rồi cha lại mời anh một điếu thuốc lào. Anh mồi thuốc vào cái điếu nhỏ bằng nhôm với vẻ rất thành thạo rồi rít một hơi dài khoan khoái. Cha tôi cười"Chú hút thuốc cũng sành gớm. Đi bộ đội thế này ở nhà đã có mối nào chưa?". Anh trầm ngâm một lúc, chắc để tận hưởng điếu thuốc lào rồi nói" Cháu có cô bạn cùng làng. Cũng tính hay là cưới để u cháu có người đỡ đần. Nhưng nghĩ lại cháu lại thôi. Đời lính biết sống chết thế nào, nói dại lỡ cháu có mệnh hệ nào thì khổ cho cô ấy. Chú bảo cháu nghĩ thế có đúng không?"
Cha tôi khen anh còn trẻ mà đã chín chắn. Từ lúc đó cho tới lúc lên tàu, có lẽ tôi ngủ mất nên không còn biết hai người nói với nhau những gì nữa.
Vào khoảng gần sáng, nghe ồn ào, tôi thức dậy. Thì ra tàu đã trải qua một hành trình dài và đã tới ga. Anh bộ đội xốc ba lô lên vai, bắt tay cha tôi rồi quay lại vuốt tóc tôi " Anh đi nhé, bé con. Hẹn ngày chiến thắng sẽ gặp lại". Cha tôi đi theo anh ra cửa toa, có lẽ ông muốn tiễn chân anh. ..
Người lính vô danh của tôi thật đáng yêu trong tâm thế một người ra trận bình thản, tự tin và vẫn dành tình cảm thân thương cho mẹ, cho em, cho cả hậu phương lớn. Những người như anh đã góp phần cùng cả nước làm nên chiến thắng 30/4/1975- mãi mãi là niềm tự hào của người Việt Nam. Tôi ước sao hồi ức nhỏ nhoi này sẽ giúp tôi gặp lại anh. Và nếu không gặp lại thì tôi mong rằng ở đâu đó, anh vẫn đang sống bình yên...
Cha tôi nguyên là hiệu trưởng một trường trung học chuyên nghiệp. Thời chiến tranh, ông luôn phải cùng nhà trường di chuyển tới nhiều địa phương để tránh bom đạn. Mùa đông năm ấy, gia đình tôi sơ tán ở Nga Nhân - Nga Sơn (Thanh Hóa). Cha đưa tôi ra Hà Nội ở với người chị cả để đi học. Thời ấy, phương tiện đi lại chủ yếu là xe đạp. Và cũng phải đi đêm để tránh máy bay. Hôm đó, vì phải chở đồ nên cha buộc quần áo cũ lên cái sườn ngang xe đạp để tôi ngồi cho đỡ đau rồi chúng tôi khởi hành. Đường rất vắng. Chắc để đỡ buồn ngủ nên cha tôi vừa đi vừa. . . hát. Ông hát những bài từ thời kháng chiến chống Pháp. Dưới ánh trăng lạnh lẽo con đường chạy vắt qua những ruộng khoai, ruộng lúa. Thỉnh thoảng đi qua những mái tranh lụp sụp ven đường, nghe tiếng trẻ con khóc, tiếng chó sủa, tôi cảm thấy vững dạ. Chúng tôi đi qua cầu Báo Văn- cây cầu nhỏ thôi nhưng là mục tiêu của máy bay Mỹ. Xung quanh cầu có nhiều hố bom sâu chồng lên nhau.
Chúng tôi tới ga xe lửa vào khoảng 9 giờ. Nhà ga tối thui, chỉ có ngọn đèn hạt đỗ trong phòng bán vé. Trời rét căm căm. Khách đợi tàu co cụm trước mái hiên để tránh gió bấc. Một chiếc tàu chở than đen trũi đứng im lìm như con quái vật khổng lồ. Cha tôi mua vé rồi bảo tôi ngồi đợi để ông đi đâu đó. Thì ra ông đi mua thuốc lào (Cha tôi nghiện thuốc lào nặng). Chính mồi thuốc lào lập lòe của cha đã thu hút một người lính trẻ, mang ba lô nặng đến gần chúng tôi. Hai người nhanh chóng trở nên thân mật vì cùng sở thích. . . hút thuốc lào. Anh lính tên Sài- cái tên lạ tai nên đến giờ tôi vẫn còn nhớ. Câu chuyện vừa bắt đầu thì nhà ga thông báo tàu ra Hà Nội 1 giờ sáng mới có. Anh bảo cha tôi" Tàu trễ mà ta ngồi đây thì rét lắm chú ạ. Hay cháu đi tìm chỗ nào kín gió để ta ngồi cho ấm". Rồi anh đi. Khi anh trở lại, cha con tôi theo anh đến một dãy nhà đang xây dở nằm sát mặt đường. Chúng tôi vào một căn phòng trống có khá nhiều những thanh gỗ dài. Mùi gỗ ngâm, mùi vôi vữa lập tức xông vào mũi chúng tôi. Anh bộ đội bảo "Ta nghỉ tạm đây chú ạ. Có thể chợp mắt được mấy tiếng đồng hồ đấy". Rồi anh loay hoay kê những thanh gỗ dài thành một cái" giường" để xếp hành lý.
Xong xuôi, anh bảo tôi" Nào cô bé, em có thể ngủ được rồi. Cái giường này cũng tươm ra phết". Tôi kêu đói vì hồi chiều chỉ ăn một bát cơm. Cha tôi bảo hai anh em ngồi đợi để ông đi tìm thứ lót dạ. Trong lúc cha đi, anh bảo tôi "Nào. Nằm xuống. Anh thấy em ngáp sái quai hàm rồi đấy. Lúc nào bố về anh sẽ gọi dậy". Tôi nằm xuống. Nhưng bầy muỗi đói cứ vo ve bên tai. Anh lấy trong ba lô mấy bộ quân phục dày, đắp lên người tôi. "Giờ thì tha hồ ấm mà muỗi chỉ có khóc. Chà, hai cái chân như chân chim thế này chắc là chạy nhanh lắm đây. Em học lớp mấy rồi ?". "Em học lớp hai" - Tôi nói. Anh chép miệng"Thằng em anh lớn tướng rồi mà cũng mới học lớp hai. Nó lười nên học dốt lắm".
Cha tôi trở về, mang theo mấy cái bánh chưng nguội ngắt, chỉ nhỉnh hơn bao diêm. Cha hỏi"Chú về phép à?". Anh vừa ăn bánh, vừa trả lời "Cháu sắp đi B. Vừa rồi kiểm tra bắn đạn thật cháu đạt ba điểm 10, được đơn vị thưởng cho 3 ngày phép. Cháu tranh thủ về thăm u với thằng em, nhân thể mang cho u cháu cái áo dệt kim mặc cho ấm. Nghe nói trong Nam không có mùa đông nên cũng chẳng cần. Với lại, cháu có áo bông rồi. U cháu bị hen (suyễn), mùa rét này thở không được, tội nghiệp lắm". "Thế ông cụ chú đâu?" - Cha lại hỏi. Anh im lặng một lúc mới trả lời: "Thày cháu có hai vợ. Bà lớn không có con trai nên ông ấy lấy vụng thêm u cháu. Thày cháu vẫn ở với bà lớn".
Câu chuyện giữa cha tôi và anh hơi trầm xuống. Rồi cha lại mời anh một điếu thuốc lào. Anh mồi thuốc vào cái điếu nhỏ bằng nhôm với vẻ rất thành thạo rồi rít một hơi dài khoan khoái. Cha tôi cười"Chú hút thuốc cũng sành gớm. Đi bộ đội thế này ở nhà đã có mối nào chưa?". Anh trầm ngâm một lúc, chắc để tận hưởng điếu thuốc lào rồi nói" Cháu có cô bạn cùng làng. Cũng tính hay là cưới để u cháu có người đỡ đần. Nhưng nghĩ lại cháu lại thôi. Đời lính biết sống chết thế nào, nói dại lỡ cháu có mệnh hệ nào thì khổ cho cô ấy. Chú bảo cháu nghĩ thế có đúng không?"
Cha tôi khen anh còn trẻ mà đã chín chắn. Từ lúc đó cho tới lúc lên tàu, có lẽ tôi ngủ mất nên không còn biết hai người nói với nhau những gì nữa.
Vào khoảng gần sáng, nghe ồn ào, tôi thức dậy. Thì ra tàu đã trải qua một hành trình dài và đã tới ga. Anh bộ đội xốc ba lô lên vai, bắt tay cha tôi rồi quay lại vuốt tóc tôi " Anh đi nhé, bé con. Hẹn ngày chiến thắng sẽ gặp lại". Cha tôi đi theo anh ra cửa toa, có lẽ ông muốn tiễn chân anh. ..
Người lính vô danh của tôi thật đáng yêu trong tâm thế một người ra trận bình thản, tự tin và vẫn dành tình cảm thân thương cho mẹ, cho em, cho cả hậu phương lớn. Những người như anh đã góp phần cùng cả nước làm nên chiến thắng 30/4/1975- mãi mãi là niềm tự hào của người Việt Nam. Tôi ước sao hồi ức nhỏ nhoi này sẽ giúp tôi gặp lại anh. Và nếu không gặp lại thì tôi mong rằng ở đâu đó, anh vẫn đang sống bình yên...
Thanh Hà