(Bài dự thi) - Một ước nguyện. 30 năm sau mới trở thành hiện thực.
Ngày 30 - 4 - 1975 - ngày giải phóng toàn phần miền Nam. Bắc Nam thống nhất sum họp một nhà, mở ra cơ hội cho muôn người con dân miền Nam có quê quán đất Bắc trở về thăm lại quê cha đất tổ. Thực ra, điều này chỉ dễ dàng cho những người đất Bắc vào thăm miền Nam - chí ít là thời gian đầu. Bởi chỉ 3 tháng sau, người đất Bắc đã tràn ngợp vào Nam trong sự vui mừng phấn khởi của người thắng trận.
Riêng tôi, phải mất 30 năm với biết bao tâm trạng: khi bồn chồn thao thức muốn về ngay, khi ủ ê ngần ngại, chần chờ ….với bao điều trăn trở âu lo viễn vông xa gần: thời vận, mùa màng, kinh tế….Đến nỗi ngoài quê chờ ngóng mãi, để phải nhắn đưa, nhắn gửi: “Người ta về hết Đông Tây mà, không thấy hai anh về (cả anh tôi). Các Chú Mự và O cũng già cả lắm rồi, các anh không về sau này đừng có hối. Nào là, về không có tiền, nhà em thuê bao xe cho hết”. Nghe thật cảm động, nhưng cũng đầy nhức nhối và hổ thẹn, bảo sao không về cho đuợc.
Đến khi xe lăn bánh vào mờ sáng, tôi mới thật sự tin: mình đang làm một chuyến Du Bắc.
Chiếc xe vun vút lao đi xé tan màn đêm như tranh thủ lúc Công An Giao Thông(CAGT) đang say nồng giấc điệp, để ngốn hết những cánh rừng cao su và cà phê bạt ngàn của 2 tỉnh Daklak và Gia Lai, rồi giữ lại tốc độ 5 - 20 km/ giờ quy định, khi đi vào đồi núi quanh co chập chùng. Xe đi vào đèo Mang Yang, như một chú mèo ngoan hiền, trông thật êm ả và ngoạn mục, nhưng cũng luôn rình rập chết người cho những tài xế bất cẩn. Thoát ra khỏi đèo Mang Yang thư thái được một lúc, đèo An Khê lại thăm thẳm những gập ghềng khúc quanh xoay vòng như đang đổ ập từ trên cao nhoài xuống triền núi, khiến cho hành khách có cảm tưởng như đang lắc lư và chơi vơi trong tàu vũ trụ rơi trong chân không.
Chẳng bao lâu, một miền Duyên Hải bằng phẳng và êm ả với Quốc Lộ 1A mở ra với một gam màu xanh dịu mắt đến lạ thường. Những rặng dừa ngút ngàn trong gió vẩy chào. Những cánh đồng lúa mạ xanh mơn mởn đuổi chạy xa tít mãi chân trời. Những núi rừng, đồi dốc cheo leo, đang chen lấn chập chùng tưởng như sắp đổ ập xuống những dòng sông phẳng lặng, hiền hoà và tha thướt, như cô gái quê làm dáng trước khi lấy chồng về biển Đông.
Trong bức vẽ toàn cảnh màu xanh thiên nhiên điểm thêm những hoa văn trắng đỏ mái tôn, mái ngói làng mạc và các hàng quán Thị Trấn nối tiếp nhau nhao ra đường Quốc Lộ 1A, tạo nên một bức tranh thổ cẩm đẹp mắt và đầy tình quê lưu luyến. Những cảnh đẹp hoang mạc và làng quê hữu tình, đến non nước núi sông hoành tráng, gây khó dễ cho những cây bút tả cảnh bậc thầy của nhóm Tự Lực Văn Đoàn cũng khó lòng mà thêu hoa dệt gấm cho đẹp bằng.
Ai chưa tự hào và trìu mến về đất nước Việt Nam, tưởng nên du hành một chuyến dọc duyên hải sẽ phải đổi ý, nếu không, họ phải tự hỏi: Mình có còn là con người VN nữa chăng?
Xe vào đường hầm Hải Vân, trời đã nhá nhem tối. Đường hầm vừa mới khánh thành vào đầu tháng 6, nên chuyến đi ngày 21/6/05 chắc chắn làm hành khách náo nức và hiếu kỳ với con đường hầm hiện đại, dài nhất Đông Nam Á (khoảng hơn 6,2 Km). Điện hầm sáng trưng và những cánh quạt thổi lồng gió tựa hồ như đang ở ngoài biển khơi. Thoả mãn trí tò mò qua đường hầm hiện đại, nhưng lại thầm tiếc, không được qua con đường đèo Hải Vân cũ với bao cảnh mây trời non nước cheo leo hoà quyện vào nhau đầy ngoạn mục đến nguy hiểm chết người.
Trời càng lúc càng lao theo tốc độ của chiếc xe khách hun hút vào đêm sâu, khiến cho tôi tiếc ngơ ngẩn, vì không được xem cảnh quê, sông núi và làng mạc các Thị Trấn…từ Huế cho đến Hà Tĩnh. Kể cả cảnh đèo Ngang là những miền đất mà tạo hoá quá keo kiệt, để đánh mất yếu tố thiên thời, địa lợi, đến “chó ăn đá gà ăn kiến”. Và con người, với bản năng sinh tồn tuyệt vời đã khắc phục được những nghiệt ngã của thiên nhiên để làm nên một mảnh đất kiêu hùng, bất khuất, thành đồng Tổ Quốc Bình Trị Thiên.
Một ngày trôi đi trong cái quan tài sắt di động với sáu, bảy chục người chật chội và nóng cháy thì, một giấc ngủ ủ ê đến thật là hợp lý.
Mãnh đất Hà Tĩnh đón những đứa con sau 50 năm trở về quê mẹ, vào một buổi sáng thức giấc, sau một đêm hè oi bức và ngái ngủ. Xe dừng lại ngã ba Bãi Vọt, lúc trời mờ sáng. Chưa kịp xuống xe, đã nghe giọng nói thân quen Hà Tĩnh: “Của ta, của ta…các anh đi mô, về mô…”. Đó là tiếng xôn xao của cánh xe ôm. Họ chào mời rất đôn đã và dễ chịu, chứ không hàm hồ lôi kéo như ở trong Nam. Từ một quán cóc bên đường, giọng một cô gái khá dễ thương chào mời: “Các anh vô đây, vô đây đi, ngồi nghĩ uống nước khôông mất tiền mô”. Thân thiện và cởi mở đến thế là cùng. Một sự khởi đầu rất tốt đẹp và đầy thiện cảm.
Một cuộc hội ngộ quá muộn màng và ngoài sức mong đợi, chỉ có cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mới diễn đạt nổi những cảm xúc mãnh liệt và thiêng liêng đó trong lời ca: “Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng, trời rộng biển xanh, sông gấm nối liền một vòng tử sinh”. Một cuộc hội ngộ đầy cảm xúc của nước mắt người ở lại, với bao biến cuộc thăng trâm dâu bể và người về với bao nhung nhớ, xót xa và ngậm ngùi thương đau cho những mất mát của những người thân quen đã đi xa, mà:
Ngôn vô tận, ý chẳng hết
Tình chỉ nhìn, thấu đáo hết tâm can
Mọi trí tưởng tượng kém cỏi trong tôi về một miền quê Hà Tĩnh sụp đổ trong một buổi sáng mùa hè.
Trời êm, gió nhẹ đưa mây ngàn trắng xoá lên cao, để rồi nhẹ buông rơi một giải lụa xanh từ cõi non ngàn xa xăm, dạt sóng biếc nhấp nhô thuyền trôi về đâu mênh mang một cõi, tình ơi là tình! Bến ở đó, mà sao thuyền không đậu, cho lòng ta gợn sóng cứ ngây ngất mãi. Ta ngồi đây mà hồn phách xiêu lạc chốn phương nao. Bên bờ sông, những rặng tre xanh quấn quýt phủ mịt mờ làng quê xa, chỉ còn nhô lên những ngọn tháp cổ Giáo Đường vẳng tiếng chuông ngân vang. Bến nước con đò năm xưa còn đó, mà người thiên cổ đâu chăng tá?
Ớ Thọ Ninh, ớ Yên Phú, chỉ cách một bến đò mà sao xa cách đến thế, hay ngàn năm nước trôi lạc mất lối về. Ai làm dòng sông bên bồi bên lở, cho nhân duyên lỡ bến vạn sầu thiên thu. Bất ngờ, tôi reo lên ngây ngô như một đứa trẻ: “Đẹp quá! ôi quê tôi đẹp quá!”. Chợt nắng chói loà, lung linh ánh vàng chấp chơi trên giải ngân hà, cứ trôi mãi, trôi mãi …bến bờ vô tận. Tôi thả hồn chảy mãi, chảy mãi theo dòng chảy, mà không sao bắt kịp. Mới hay rằng, lòng ta sao quá hẹp, để không đong hết nỗi mênh mang một cõi đất trời.
Ta về đây với mênh mông sông nước biển trời lai láng tình quê. Ta về đây với bến đò xưa phủ bóng tre già, tình nhân trẻ hẹn hò lưu luyến một thửa đợi chờ dưới trăng mờ. Ta về đây, trên dòng sông La ngày xưa trai gái, võng tiếng hò đưa câu ví dặm. Ta về đây, trên bờ đê cỏ non xanh thẳm cho tuổi thơ thả diều, đá dế, cỡi trâu bò trên cánh đồng quê. Ta về đây, dưới luỹ tre làng nơi chôn rau cắt rốn. Ta về đây, nơi mảnh đất Tiên Tổ nằm xuống cho hoa nở nhân sinh trong mỗi tâm hồn người.
Trước đây, tôi biết sông nước làng quê Bắc bộ qua những phim chuyện trên TV và giờ đây, tận mắt xem cảnh quê Bắc Trung bộ cũng chẳng khác Bắc bộ là mấy. Vẫn những dòng sông, bến nước, con đò thấm đậm tình quê. Vẫn những cánh đồng lúa xanh chập chờn cánh cò bay. Vẫn những lối ngõ quanh co nối liền những ngôi nhà mái ngói rêu phong, tường vôi màu cổ luỹ dưới bóng tre xanh ấp ủ mái ấm tình quê. Có khác chăng, là Bắc bộ kín cổng cao tường hơn Trung bộ. Cổng làng và Đình Chùa của người Bắc bộ sắc sảo, cầu kỳ hơn người Bắc Trung bộ và thậm chí các làng giáo chẳng có cổng làng nữa là Đình Chùa .
Và con người là cả một đặc sản tinh tuý của miền quê Hà Tĩnh: chân chất, dung dị, mộc mạc, hiếu khách, thân thiện và hiền hoà như dòng chảy sông La. Chúng tôi, những người di cư 54, và hơn 50 năm, không còn được tắm gội nước nguồn sông La, cũng như không còn được hít thở khí trời Hồng Lĩnh. Có lẽ, cái nguyên bản tự tình miền quê đầy tính nhân văn, như “hương đồng gió nội, đã bị bay đi ít nhiều”?
Sống cả đời, chưa chắc đã am hiểu hết ngọn nguồn chốn quê, huống chi thời gian về quê nhà thật vắn vỏi, không cho phép tôi dông dài để thực địa đến tận xóm làng xa xôi như tôi hằng mong ước. Vì thế chuyến Du Bắc, cũng chỉ là “cưỡi ngựa xem hoa” đầy cảm tính chủ quan hơn là chuyến đi thực nghiệm. Và sai lệch thiếu sót là chuyện không thể tránh khỏi.
GH Yên Đông - làng Cầu Khóng- là nơi chôn rau cắt rốn và hiện các Chú Mự và O ruột tôi còn thượng tại với gia đình các em tôi. Mục đích của chuyến Du Bắc là thăm lại quê cũ người thân, nhưng cũng chính là cơ hội tìm lại cội nguồn gia phả. Tìm lại nét vàng son một thời hưng thịnh của một dòng họ có chút tiếng tăm, được Vua nhà Nguyễn là Bảo Đại ban tặng bảng vàng “TỨ ĐẠI ĐỒNG ĐƯỜNG” song tuyền. 4 Thế hệ: ông ,cha, con, cháu sống thượng tại dưới một mái nhà. Bảng vàng này, hiện còn được lưu giữ tại Cầu Khóng. Nhưng thực sự cái hào quang của bảng vàng này, đã không còn níu kẻo nổi cái thời kỳ vàng son giàu sang và thuận hoà êm ấm nữa rồi.
Chuyện đời đã quá nhiêu khê và dâu bể. Thôi thì dã ngoại một chuyến về Gia Hoà quê ngoại của mẹ tôi cho thư thái tâm hồn vậy. Chạy dài dọc theo bờ đê là con đường bê tông xi măng, vẽ một đường lượn cong thật bằng phẳng và êm ả. Con đường này là huyết mạch chính cho các lộ trình giao thông vào các ngõ xóm làng Giáo họ(GH), Giáo xứ(GX): Tân Định, Yên Trung, Nghĩa Yên, Yên Đông, Bùi Xá…Chợ Cầu, chợ Trổ, Hạ Tứ, Đức La. Kẻ Tùng …và muốn xuống Gia Hoà phải thông ra đường Quốc Lộ chừng 5,6 cây số mới tới TT Gia Lách, Gia Hoà. Câu nói ngày xưa, ai muốn ăn khoai lang thì về Gia Hoà, ẩn chứa một chút mỉa mai về một vùng đất nghèo. Chúng tôi ghé thăm một người bà con bên đàng ngoại và được đón tiếp rất nồng hậu và thân thiện trong tình cảm dạt dào sau bao năm xa cách. Được biết, ông là Trùm xứ trong Ban Hành Giáo và hiện đang đốc công xây dựng Thánh Đường GX Gia Hoà. Chúng tôi đến tại hiện trường đang thi công với ngỗn ngang dàn giáo, vôi vựa… Một công trình bạc tỷ vừa hoành tráng vừa công phu và tỉ mỉ đến chân tơ kẻ tóc, đang bước vào công đoạn hoàn thành làm đẹp được 2/3 . Nhưng công thợ lại hoàn toàn do người trong GX khéo tay đảm nhận. Và điều đáng ghi nhận là mặc dù hoàn cảnh khó khăn, nhưng họ vẫn xung công vào việc xây dựng Thánh Đường gần hai năm mà, không nhận lấy một đồng tiền công, kể cả không có tiêu chuẩn ăn trưa. Và trưa hôm đó, là bữa ăn đầu tiên do GX khoản đại.
Một tinh thần phục vụ vô vị lợi như thế, quả thật ở miền Nam là hơi bị hiếm.
Chiều hôm đó, chiếc xe con của người bà con đưa chúng tôi đi chơi bãi biển Cửa Lò, làm tâm hồn mọi người thư thái lên hẳn.
Bãi biển Cửa Lò lượn nửa vòng cong khá dài. Nước nông, sóng nhẹ, bãi cát mịn màu đường cát ngà vàng và thoai thoải rất thuận tiện cho người tắm không biết bơi. Dọc theo bờ biển, những khách sạn, nhà hàng…có lẽ cũng chỉ mới xây dựng trong vòng mấy năm trở lại đây với những kiểu kiến trúc đồ sộ, nhưng lại kém vẻ thanh tao và đẹp mắt. Buổi tối chúng tôi còn được chiêu đãi đặc sản: Tôm, cua, cá rất ngon miệng. Tình hình kinh tế của Gia Hoà nhìn chung là khá khả quan. Có nhiều hộ vươn lên làm giàu hàng cấp tỉnh, như gia đình ông Trùm Xứ, các con cái đều là những nhà doanh nghiệp chế biến: cà phê, nông sản, thầu khoán …ăn nên làm ra và rất thành đạt trong kinh doanh. Mức thuế đóng cho nhà nước mỗi năm trên 2 tỷ đồng thì lợi nhuận biết là nhường nào. Nhưng con người lại rất: dung dị, hiền hoà và chân tình. Ở Gia Hoà, tôi cảm thụ được một vài điều bổ ích và lý thú trong đời thường.
Trước khi ra về, mấy chị em tôi tổ chức một bữa tiệc liên hoan gia tộc để tụ họp đông đủ cháu con. Bữa tiệc vang dậy rôm rã, nổ ra như pháo Liên Châu. Những trận cười liên tu và dòn dã tưởng như chưa bao giờ được cười. Những chia sẽ tâm tình giao lưu giữa hai miền đầy thân ái và trìu mến, hứa hẹn những cuộc giao lưu thường niên trong tương lại sẽ đong đầy nhiều tình cảm chan chứa. Tiệc vui tàn dần theo chén bia rượu cạn, nhưng tình cảm ngợp tràn mãi trong lòng mọi người.
Có người nói: về Bắc mà không ra thăm Hà Nội 36 phố phường và Lăng Bác thì cũng coi như không. Nói vậy, bố bảo ai không hiếu kỳ. Và một chuyến đi Hà Nội là không thể cưỡng nổi.
Còn ngây ngất men say bởi bữa tiệc liên hoan, nên lên tầu ga Yên Trung vào lúc chập choạng thì một giấc ngủ ngon ập tới là quá hợp lý, mặc cho tiếng tầu gầm thét sầm sập như giông bão.
Chúng tôi đến Hà Nội vào lúc mờ sáng Chủ Nhật. Còn quá sớm để làm phiền người bà con, nên đành cà kê ở một quán cóc bên đường, với hình ảnh thân quen thường gặp trên TV: chiếc đèn dầu leo lét, chiếc điếu cày, ấm tách, kẹo bánh…Chén một tô phở nhưng vẫn chưa thấy ngon tiêu biểu cho phở Hà Nội. Phở vỉa hè Hà Nội không có thêm tiêu chuẩn rau thơm và nước uống như ở trong Nam. Muốn uống nước, phải sang hàng nước kế bên, đó là điều khá lạ lẫm với người miền Nam.
Hà Nội với với 3 tiêu chí: xanh sạch đẹp thì không thể chê vào đâu được. Tổng quan của Hà Nội được phủ kín một màu xanh cây trồng, ngã bóng mát trên khắp lối đi phố phường. Những phố cổ mái ngói nâu sậm và tường vôi cổ luỹ ngã mầu thời gian vốn đã cổ kính lại càng cổ kính hơn khi nằm giữa những toà nhà choáng lộn cao ốc hiện đại. Hà nội mùa này nắng nóng chói chang thì những hồ Tây, Trúc Bạch, Hoàn Kiếm, Ba Mẫu, Bảy Mẫu…lại làm dịu cho Thủ Đô với những làn gió mát, và “quán cóc liu riu một câu thơ” là điều khá thi vị cho những du khách.
Tranh thủ ngày Chủ nhật, chúng tôi tham quan Lăng Bác. Đã từng nghe bài hát “Nắng Ba Đình”- của Bùi Công Kỳ, nhưng bây giờ mới thấy cái nắng chói loà và rực rỡ trên quảng trường Ba Đình hun hút nóng, càng làm cho sự chờ đợi thêm lâu và hàng sắp lối đi thêm dài. Bên ngoài Lăng mộc mạc và đơn sơ thì phía trong càng giản đơn và dung dị như cách sống của Người vậy. Trong phòng tối mát lạnh, Người Cha Dân Tộc nằm ung dung tự tại, trong giấc ngủ miên trường. Ánh đèn chiếu lên khuôn mặt rất đổi rạng rỡ, hồng hào và phương phi trong chòm râu tóc bạc trắng, làm tăng thêm vẽ đẹp hiền triết của các bậc Đạo học Đông Phương đang an vi tĩnh tại. Chúng tôi ghé vào bảo tàng viện với muôn điều kỳ thú về những tư liệu cuộc chiến chống Mỹ phong phú đa dạng và rất hiện thực. Nếu muốn xem cho đến nơi đến chốn cũng phải mất cả tuần lễ mới thấu đáo tỏ tường được, mà chuyến đi của chúng tôi lại rất hạn hẹp thời gian, nên chỉ đi nơi một chút cho biết thôi.
Quốc Tử Giám - Trường Đại học đầu tiên của VN- cũng không thể bỏ sót. Trong thực cảnh khuôn viên QTG có vẻ nhỏ hơn trong dự tưởng, nhưng đẹp và quyến rũ hơn so với phim ảnh. Những bóng mát cổ thụ rũ xuống màu xanh dịu mắt lạ thường dưới cái nắng chói chang. Và cỏ non trải thảm mượt mòng cho tình nhân hẹn hò quấn quýt xiết bao êm đềm. Những mái đình chùa cong mầu ngói thẩm, bên những cổng Đình Chùa cổ kính với nhiều hoạ tiết rất tiêu biều cho tinh tuý văn hoá cổ, khiến cho tình nhân như sống lại một thửa xa xưa thời Đường thi. Và những bia đá thô mộc trên những lưng rùa bì bạch nhọc nhằn chỉ là một sự ghi nhận về các hiền tài nguyên khí quốc gia hơn là tự hào về mỹ thuật thô mộc của tiền nhân vào năm 1070 và nhiều thế kỷ sau mà chỉ ngần có ấy.
Cũng đẹp và nên thơ như trong phim ảnh, nhưng Hồ Tây thực cảnh sinh động và có hồn hơn bởi, những luồng gió mát dạt dào gợn sóng trong xanh và cảnh quan hùng vĩ của biển hồ bên những hàng cây cổ thụ gió đưa rì rào. Cách xa không mấy, là cảnh hồ Hoàn Kiếm có vẻ, bớt chút thơ mộng hơn trong dự tưởng, nhưng lại thật thú vị khi ngồi dưới tàn cây xanh cổ thụ trong cái nắng gay gắt thoáng đưa gió mát từ hồ lên làm thoáng đãng tâm hồn du khách. Hà Nội sạch kể cả không có người đi bán nước, hàng rong và khi khát tìm một chai nước khoáng là không dễ chút nào.
Một buổi chiều đẹp trời, người bà con - tốt bụng và đầy thân thiện - đã gióng xe con đi chơi một vòng ngoại ô Thủ Đô ra đường đi Nhật Tân lên cầu Thăng Long - có lẽ, đây là chiếc cầu dài và độc đáo nhất VN, vì có hai tầng: trên cho xe các loại và dưới cho tầu lửa. Đứng trên cầu Thăng Long nhìn tổng diện Thủ Đô và sóng nước Sông Hông rất nên thơ và ngoạn mục đẹp mắt.
Tổng thể kiến trúc Hà Nội là rất đẹp, tuy nhiên đi sâu vào chi tiết vẫn còn những hạt sạn kiến trúc kim cổ “giả cầy” chen lấn rất phản cảm nhau và sự phát triển không đồng thuận giữa kinh tế và văn hoá. Ngay cả sông Hồng và Hà Nội, vẫn có những nét riêng rất đẹp nhưng sự hoà nhập lại trở nên lạnh cảm, không hổ tương và giao cảm nhau như các con sông và Tp khác: sông Hương - Huế, sông Hàn - Đà nẵng…
Từ Thủ Đô Hà Nội, nhìn lại chặng đường miền Bắc đã đi qua, ít nhiều cho tôi được vài cảm nhận: Tất cả đang nổ lực chuyển mình để thay da đổi thịt, nhằm Đô Thị hoá cấp tốc để gây thanh thế cho thành phố mình, mong thu hút được sự đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài và du khách đến. Đó là điều không dễ dàng cho miền Bắc, bởi nội lực kinh tế mặt bằng chung là không thể bằng miền Nam. 90% đất đai miền Bắc là đất nông nghiệp. Mà nông nghiệp lại gần như độc canh cây lúa nước cho kinh tế thấp, nên người nông dân cũng chỉ đủ ăn và tiêu dùng vặt vãnh. Trong khi cây trồng công nông nghiệp như ở Tỉnh ĐakLak, rất đa dạng: Cà Fê, tiêu, cao su, điều…và màu mè như đậu, lạc, ngô, khoai…Những thị trấn như Ea Kar, Buôn Hồ, Cư Jút…có sức mua bán hơn gấp 10 lần TT Đức Thọ. Ngay như Thủ Đô Hà Nội, sức mua bán tập nập khó có thể qua mặt được Tp Đà Nẵng nói chi đến TP HCM. Nhưng đổi lại tổng quan quy hoạch Đô Thị miền Bắc là rất quy củ: Nề nếp, trật tự, đường rộng, hè thoáng, ít có sự xâm chiếm lòng đường, hè phố như ở trong Nam. Từ Hà Tĩnh trở ra Hà Nội đều có chung một lối kiến trúc xây dựng: Nhà kiểu Thái, nhiều mái, tôn đỏ và đặc biệt khác lạ so với miền Nam là có thêm tháp nhọn ở giữa làm giếng trời. Trong khi ở miền Nam tốc độ Đô Thị hoá nhanh đến chóng mặt: chỉ cần 6 tháng đến một năm thì nơi hoang mạc cũng có thể trở thành phố thị buôn bán tập nập và quy hoạch Đô Thị chưa kịp bản vẽ thì đã hình thành. Cũng chính vì sự phát triển Đô Thị ào ạt, xô bồ mà tổng quan đô thị thiếu quy củ và trật tự. Đô Thị xanh, sạch, đẹp và thoáng là những tiêu chí mà Tp miền Bắc có triển vọng sẽ đạt được trong tương lai.
Hà Nội đẹp: cổ kính, văn hoá và nên thơ. Đó là cái chung của Đất Nước. Nếu có dịp về Bắc, tôi cũng chỉ về Hà Tĩnh, dù quê tôi còn nghèo và còn nhiều truân chuyên, vất vả. Nhưng chính nơi đó đã cho tôi nhiều cái tình riêng: nơi chôn nhau cắt rốn, nơi tình quê lai láng và hơn hết là mảnh đất đã biến thành tâm hồn trong tôi.
Tối về, đánh chén một bữa thịt chó - kiểu chè chó Hà Tĩnh - với cuốc lũi ngon thoả thê, rồi ngày mai lại trở về Hà Tĩnh bằng tầu lửa. Tàu lửa vốn như một cô thôn nữ thoi đưa đó đây qua các cánh đồng lúa mượt mà trên nền thẩm xanh của bức tranh thổ cẩm núi rừng, sông nước trùng điệp. Còn anh chàng thị dân xe khách lại luôn tìm đến nơi phố thị phồn hoa đô hội. Và cả hai đã vẽ nên một bức tranh toàn cảnh gấm lụa: đồng quê và thành thị VN.
Cầu Khóng vẫn là một cõi đi về.
Tiếng là về Hà Tỉnh nhưng thực ra vẫn chưa đi đó đây như : TX Hồng Lĩnh, Bãi Vọt, Mộ thi hào Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Ngã ba Đồng Lộc, làng ca trù Mộ Dạ, Cổ Đạm, mà ngày vui chỉ tày gang tay đang ngắn lại dần.
Và 30 năm một lần về vẫn cứ lỗi hẹn, vì chỉ đủ thời gian tranh thủ đi thăm mộ và hoa viên Trần Phú -Tổng Bí Thư đầu tiên, người viết cương lĩnh Đảng. Hoa viên và mộ Trần Phú nằm dựa lưng vào lưng đồi cao nhìn ra ngã ba sông - Ngàn Phố và Ngàn Sâu - hoà nhập chảy thành con sông La trông rất thơ mộng và hữu tình. Một vòng cầu hồ nước rộng với hành lang ra nhà thuỷ tạ xinh xắn. Những lối đi bên những vuông cỏ non xanh và lan can cổng chào với những ghế đá bài trí một cảnh quan rất hoà hài và đẹp mắt. Những bậc tam cấp nối nhau léo lên đỉnh đồi đến bở hơi tai, là mộ Tổng Bí Thư Trần Phú nằm dung dị giữa một khoảng rộng tựa vào vách đồi với hàng chữ: “Hãy giữ vững chí khí chiến đấu”. Có lẽ, đây là một trong những hoa viên đẹp nhất cho một danh nhân có công đóng góp cho đất nước. Nhưng rồi, Đại thi hào Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Phan Đình Phùng… những người con làm rạng danh đất nước và quê hương Hà Tĩnh, đã có những nơi yên nghỉ xứng tầm chưa? Hay còn quá khiêm tốn như dư luận báo chí từng phản ánh!?
Bây giờ tôi mới hiểu: Tại sao mảnh đất Địa Linh này lại sản sinh ra những con người tinh tuý đến thế. Là bởi miền quê này được bao phủ một màu xanh ngọc bích dịu dàng và hiền hoà. Một biển trời xanh thẳm bao la, làm cho tâm hồn con người trở nên thoáng đãng, bao dung và gần gũi nhau hơn. Những rặng tre xanh ấp ủ mái ấm tình quê, những dung dị và mộc mạc. Những ruộng đồng lúa mạ xanh mởn ngút ngàn, nuôi dưỡng sức sống con người tươi vui và quyện hoà vào thiên nhiên. Và dòng xanh nước biếc là cả một nguồn thơ lai láng chất tình tự quê hương, làm tâm hồn con người thêm phong phú và giàu cảm xúc.
Nếu được chia sẽ đôi chút tâm tình bộc bạch: Xin cầu chúc cho muôn người Hà Tĩnh quê ta, giữ mãi được nét đẹp nhân văn: Giàu tình người và thấm đậm tình quê. Điều này là chân lý vượt thời gian, nó không bao giờ xưa cũ, trái lại nó luôn làm mới mẻ cho cuộc sống, để con người luôn gần gủi, cảm thông và sống luôn tin yêu. Cuộc đời bỗng dễ thương và con người thêm yêu đời hơn.
Thời gian bỗng phủ phàng khép lại, và một cuộc chia tay không ai cưỡng nổi. Đôi bên Nam Bắc lòng bịn rịn lưu luyến. Thời gian như ngưng đọng. Ngôn bất tận ý, tình thấu tâm can. Bỗng không gian oà vỡ tiếng khóc như cố níu kéo lại phút giây nhiệm mầu sum vậy ngắn ngủi. Biết không thể níu kéo nổi, tôi gạt nước mắt, rồi bước nhanh ra ngoài ngõ vắng, như thể nấm ná ở lại, sẽ không bao giờ dứt đi nổi.
Tôi bước đi xa mãi, xa mãi, rồi bỗng quay lại vẩy tay chào: “Xin tạm biệt quê hương thân yêu, hẹn gặp lại và chắc chắn là không phải 30 năm sau nữa rồi”.
Chúng tôi ra về với mặt trời trong trái tim tràn ngập yêu thương, là quà tặng mà miền Bắc gửi trao. Xin cám ơn miền Bắc đã cho chúng tôi một cuộc dạo chơi ngoạn mục và đầy cảm xúc.
Nguyễn Vĩnh Căn