Công nghiệp Văn hóa

"Mở đường" cho công nghiệp văn hóa phát triển bứt phá

13/08/2026 06:06 GMT+7 Google News

Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng tạo bước đột phá về thể chế, kết nối chuỗi giá trị và khơi thông nguồn lực để công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới.

Tại Hội thảo lấy ý kiến về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa khu vực miền Bắc do Bộ VH,TT&DL phối hợp với UBND thành phố Hà Nội tổ chức mới đây tại Hà Nội, nhiều chuyên gia khẳng định sự cần thiết ban hành luật, đồng thời đề xuất tiếp tục hoàn thiện các cơ chế để chính sách này vận hành hiệu quả trong thực tiễn.

Hội thảo nằm trong chuỗi hoạt động tham vấn chính sách phục vụ xây dựng dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, dự kiến trình Quốc hội xem xét tại Kỳ họp tháng 10/2026 theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn phát triển

Công nghiệp văn hóa không phải là vấn đề mới trong chủ trương phát triển đất nước. Khái niệm này lần đầu tiên được đề cập chính thức trong Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 của Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Nghị quyết xác định nhiệm vụ: "Xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam".

"Mở đường" cho công nghiệp văn hóa phát triển bứt phá - Ảnh 1.

Quang cảnh Hội thảo lấy ý kiến về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa tại Hà Nội

Tinh thần này tiếp tục được cụ thể hóa trong các văn kiện, chiến lược và chính sách phát triển văn hóa. Đặc biệt, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra yêu cầu: "Hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hoá", trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ "Tập trung xây dựng các luật về hoạt động nghệ thuật, văn học, bản quyền tác giả, công nghiệp văn hoá... theo hướng kiến tạo, khơi thông nguồn lực cho phát triển văn hoá".

Theo mục tiêu được xác lập, đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa phấn đấu đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5 đến 10 thương hiệu quốc gia trong những lĩnh vực có tiềm năng như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế và thời trang. Đến năm 2045, công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo được định hướng thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP.

Để hiện thực hóa những mục tiêu được xác lập, Việt Nam đang hội tụ đầy đủ các nguồn lực và điều kiện thuận lợi để bứt phá trở thành một trung tâm công nghiệp văn hóa năng động trong khu vực.

Trước hết đó là kho tàng di sản và tài nguyên văn hóa đồ sộ, giàu bản sắc. Việt Nam sở hữu hệ thống di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh phong phú và hàng nghìn làng nghề truyền thống. Đây là nguồn nguyên liệu sáng tạo vô tận, có giá trị kinh tế gia tăng rất cao để khai thác phát triển các ngành du lịch văn hóa, điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, thời trang và thủ công mỹ nghệ.

Việt Nam cũng sở hữu nguồn nhân lực trẻ, dồi dào và khả năng sáng tạo cao. Lực lượng lao động trong độ tuổi vàng với tinh thần đổi mới sáng tạo, nhanh nhạy với công nghệ và xu hướng mới. Đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, các nhà thiết kế trẻ, các nhà sản xuất nội dung số (game, phim, âm nhạc) tại Việt Nam đã và đang khẳng định năng lực qua nhiều sản phẩm có tiếng vang trong nước và quốc tế.

Một lợi thế khác là thị trường tiêu dùng văn hóa nội địa rộng lớn và năng động. Quy mô dân số 100 triệu người với tầng lớp trung lưu tăng nhanh, tỷ lệ sử dụng internet và thiết bị di động rất cao. Nhu cầu thụ hưởng các sản phẩm, dịch vụ văn hóa, giải trí lành mạnh, chất lượng cao của người dân - đặc biệt là thế hệ trẻ - đang gia tăng vô cùng mạnh mẽ.

Cùng với đó, khu vực tư nhân ngày càng chủ động, tự tin đầu tư vào các chuỗi cụm sáng tạo, tổ hợp nghệ thuật, các nền tảng phân phối số. Sự phát triển của hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin (AI, Big Data, Blockchain) đang mở ra không gian phát triển hoàn toàn mới cho kinh tế sáng tạo.

Tuy nhiên, những tiềm năng này chưa được chuyển hóa tương xứng thành năng lực kinh tế. Cụ thể, tỷ trọng công nghiệp văn hoá trong GDP Việt Nam cả giai đoạn 2018 - 2025 ước đạt 4-5%, còn khoảng cách rất xa so với mục tiêu đặt ra đến năm 2030 là tối thiểu 7%, khó có thể bứt phá nếu không có một "cú hích" về mặt chính sách kiến tạo của Nhà nước.

Theo Ban soạn thảo, mặc dù có nguồn lực và tiềm năng to lớn, nhưng thực tiễn phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam thời gian qua vẫn gặp nhiều khó khăn, chưa tương xứng với tiềm năng.

Trước hết, pháp luật về văn hóa còn thiếu tính đồng bộ và hệ thống, chủ yếu tiếp cận công nghiệp văn hóa dưới góc độ quản lý nhà nước đơn thuần về nội dung, thiếu các chính sách mang tính kiến tạo để thúc đẩy phát triển kinh tế, chưa coi đây là một lĩnh vực kinh tế năng động có khả năng đóng góp lớn vào GDP và giải quyết việc làm.

Mặt khác, quy định pháp luật hiện hành còn phân tán trong các luật chuyên ngành như điện ảnh, sở hữu trí tuệ, du lịch, quảng cáo, xuất bản, thậm chí còn nằm ở các văn bản dưới luật do lĩnh vực đó chưa được điều chỉnh bằng luật như văn học, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm. Rõ ràng, quy định pháp luật đã có nhưng thiếu một luật mang tính tổng thể, kết nối từ sáng tạo, sản xuất, phân phối đến tiêu dùng các sản phẩm văn hóa. Sự thiếu vắng này tạo ra những "khoảng trống", "điểm mờ", "điểm nghẽn" về mặt pháp lý.

Theo Ban soạn thảo, hiện đang thiếu một văn bản luật đưa ra chính sách từ góc nhìn giá trị kinh tế để thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hoá bằng cách kết nối liên ngành: Văn hoá với sáng tạo, sáng tạo với quyền; quyền với vốn; vốn với sản xuất; sản xuất với phân phối; phân phối với doanh thu; doanh thu với tái đầu tư và xuất khẩu.

Từ thực tiễn này, việc ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là đòi hỏi cấp bách nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hoá Việt Nam. Luật được xây dựng với sứ mệnh là một "Luật kiến tạo": Vừa tháo gỡ các "điểm nghẽn", làm rõ các "điểm mờ" vừa bổ sung quy định lấp đầy các "khoảng trống" pháp lý để khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo, gia tăng hàm lượng văn hóa trong các sản phẩm, dịch vụ, bảo vệ thị trường nội địa và tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng bứt phá của đất nước.

Nhấn mạnh ý nghĩa của việc xây dựng luật, ông Nguyễn Trường Sơn (Chủ tịch Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam) cho rằng: "Việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là một bước rất cần thiết và kịp thời cho việc phát triển công nghiệp văn hóa nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng trong lĩnh vực này. Đây là một dự thảo luật rất quan trọng trong hệ thống văn bản luật, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực văn hóa".

"Mở đường" cho công nghiệp văn hóa phát triển bứt phá - Ảnh 2.

Các show diễn nghệ thuật truyền thống mỗi tối cuối tuần không chỉ làm phong phú thêm sản phẩm du lịch đêm của Hà Nội mà còn giúp bảo tồn, lan tỏa nét đẹp văn hóa dân tộc tới du khách trong và ngoài nước. Ảnh: Tiến Long/TTXVN phát

Chuyển bản sắc văn hóa thành giá trị kinh tế

Tinh thần chủ đạo của dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được Ban soạn thảo xác định: "Chuyển bản sắc văn hoá thành tài sản trí tuệ, chuyển tài sản trí tuệ thành dòng tiền tạo ra giá trị kinh tế".

Đây cũng là điểm thể hiện sự chuyển đổi quan trọng trong cách tiếp cận. Công nghiệp văn hóa được nhìn nhận như một chuỗi giá trị và một ngành kinh tế chiến lược, thay vì tập hợp những hoạt động văn hóa riêng lẻ. Con người, chủ thể sáng tạo, doanh nghiệp và tài sản trí tuệ được đặt ở vị trí trung tâm; Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, kết nối và tạo điều kiện để thị trường vận hành.

Dự thảo Luật được xây dựng trên nguyên tắc không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính; không quy định lại những chính sách mà các luật chuyên ngành và các luật khác đã quy định; không cầu toàn, không cố gắng giải quyết mọi vấn đề.

Trọng tâm là chọn lọc một số vấn đề quan trọng mang tính then chốt để ưu tiên giải quyết theo hướng: "Điểm mờ" mà các luật chuyên ngành chưa cụ thể hoá, đặc biệt là trong khâu tổ chức thực thi; "khoảng trống" mà các luật chuyên ngành chưa có, nhưng không trái với luật chuyên ngành; "điểm nghẽn" trong hệ thống pháp luật đã chín, đã rõ, nhận được sự đồng thuận cao, để tháo gỡ.

Theo đó, dự thảo gồm 9 chương, 60 điều, tập trung vào 6 nhóm chính sách lớn: hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; tài sản trí tuệ; nhân lực và nhân tài; hạ tầng; thị trường; hỗ trợ tài chính và ưu đãi đầu tư. Trong cấu trúc này, hệ sinh thái được xác định là khung kết nối; tài sản trí tuệ là yếu tố đột phá; nhân lực và nhân tài là yếu tố cốt lõi; hạ tầng là yếu tố nền tảng; thị trường là yếu tố then chốt; hỗ trợ tài chính và ưu đãi đầu tư là yếu tố bảo đảm nguồn lực.

Chủ tịch Hiệp hội Sáng tạo và Bản quyền tác giả Việt Nam Bùi Nguyên Hùng cho rằng, điểm nhấn của dự thảo là đã bao quát 6 nhóm chính sách cơ bản cho phát triển công nghiệp văn hóa. Trong đó, quy định về sàn giao dịch công nghiệp văn hóa và tài sản trí tuệ có thể góp phần tháo gỡ những vướng mắc trong việc thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ, nhất là đối với hoạt động hỗ trợ tài chính và tín dụng. Đây cũng là một trong những cơ sở bảo đảm tính khả thi của Luật sau khi được ban hành.

Theo ông Hùng, kết cấu của dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hoá bám sát chuỗi giá trị của các ngành công nghiệp văn hóa được xác định trong Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, ban hành theo Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 8/9/2016, và Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ban hành theo Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025; đồng thời tương thích với cách tiếp cận của UNESCO và một số quốc gia đi trước như Hàn Quốc, Anh, Trung Quốc cũng đang soạn thảo luật thúc đẩy công nghiệp văn hóa.

"Mở đường" cho công nghiệp văn hóa phát triển bứt phá - Ảnh 3.

Khách du lịch trải nghiệm viết thư pháp bằng kính thực tế ảo tại tour đêm Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Ảnh: Phạm Tuấn Anh - TTXVN

 Để chính sách vận hành trong thực tế

Bên cạnh việc ghi nhận những bước tiến trong tư duy xây dựng dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, các ý kiến tại hội thảo cũng cho rằng dự thảo cần tiếp tục được chỉnh lý theo hướng cụ thể hóa các cơ chế thực thi. Đây là điều kiện quan trọng để những chính sách mới không chỉ dừng lại ở định hướng, mà thực sự tạo được hành lang pháp lý cho thị trường công nghiệp văn hóa phát triển.

Theo TS Nguyễn Thị Quý Phương (nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Báo chí - Truyền thông), dự thảo đã thể hiện bước chuyển quan trọng trong cách tiếp cận công nghiệp văn hóa. Thay vì quản lý các hoạt động văn hóa theo từng lĩnh vực riêng biệt, dự thảo tiếp cận công nghiệp văn hóa như một hệ thống hoạt động kinh tế dựa trên tài nguyên văn hóa, năng lực sáng tạo, khoa học và công nghệ, chuyển đổi số, tài sản trí tuệ và thị trường.

"Việc xác lập chuỗi giá trị từ sáng tạo, phát triển, sản xuất, phân phối, thương mại hóa, trình diễn, tiêu dùng đến tái đầu tư là hướng tiếp cận phù hợp để liên kết chính sách văn hóa với chính sách thị trường, đầu tư, tài chính, công nghệ và sở hữu trí tuệ" - TS Quý Phương nhấn mạnh.

Theo TS Quý Phương, trên cơ sở tiếp cận theo chuỗi giá trị, dự thảo đã bước đầu thiết kế một số công cụ thể chế mới có ý nghĩa đối với quá trình hình thành và phát triển thị trường công nghiệp văn hóa. Nổi bật là các cơ chế về thử nghiệm có kiểm soát, tài sản trí tuệ, tài chính - tín dụng, huy động nguồn lực, hạ tầng sáng tạo, giao dịch quyền, kích cầu, thống kê và đo lường mức đóng góp của ngành.

Qua đó, dự thảo đã hình thành những cấu phần quan trọng cho một khung thể chế phát triển công nghiệp văn hóa dựa trên chuỗi giá trị, tài nguyên văn hóa, đổi mới sáng tạo, công nghệ số và tài sản trí tuệ. Tuy nhiên, để khung thể chế này có thể vận hành hiệu quả, giai đoạn chỉnh lý cần tiếp tục làm rõ và luật hóa các cơ chế đã được đề xuất.

Theo TS Quý Phương, trước hết cần tăng cường bảo vệ tài sản trí tuệ và quyền của chủ thể sở hữu, quản lý hợp pháp di sản; luật hóa mã định danh, hồ sơ tài sản trí tuệ số và cơ chế tín dụng dựa trên tài sản trí tuệ. Cùng với đó, dự thảo cần thiết lập cơ chế bảo lãnh, chia sẻ rủi ro, vốn đối ứng và các gói tín dụng chiến lược nhằm khơi thông dòng vốn cho những dự án sáng tạo vốn có mức độ rủi ro cao và khó định giá bằng tài sản hữu hình.

Một yêu cầu khác là luật hóa bộ chỉ số công nghiệp văn hóa, tích hợp với Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam (VSIC) và dữ liệu hóa đơn điện tử, qua đó tạo cơ sở thống kê, đo lường chính xác quy mô, tốc độ tăng trưởng cũng như mức đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa. Dự thảo cũng cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế thuế, hợp tác công tư (PPP), sàn giao dịch quyền sở hữu trí tuệ và tài sản số quốc gia.

Bên cạnh đó, theo chuyên gia này, cần giảm sự phụ thuộc vào các văn bản quy định chi tiết và phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý nhà nước. Việc quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế phối hợp sẽ giúp hạn chế khoảng trống trong tổ chức thực hiện, đồng thời bảo đảm các chính sách hỗ trợ được triển khai thống nhất, minh bạch và đúng đối tượng.

"Việc hoàn thiện các nhóm quy định này sẽ góp phần tạo hành lang pháp lý cho việc chuyển hóa tài nguyên văn hóa và tài sản trí tuệ thành sản phẩm, dịch vụ, thị trường và nguồn lực tăng trưởng; đồng thời nâng cao khả năng tổ chức thực hiện của chính sách phát triển công nghiệp văn hóa" - TS Quý Phương nhấn mạnh.

Trong thời gian tới, Bộ VH,TT&DL sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và cơ quan liên quan nghiên cứu, tiếp thu những ý kiến góp ý thẳng thắn, trách nhiệm, tâm huyết để hoàn thiện dự án Luật theo trình tự, thủ tục rút gọn, dự kiến trình Quốc hội xem xét tại Kỳ họp tháng 10/2026. Ban soạn thảo cũng mong muốn tiếp tục nhận được những đề xuất thiết thực, góp phần xây dựng hành lang pháp lý đủ mạnh để thúc đẩy công nghiệp văn hóa Việt Nam phát triển đột phá.

Công Bắc

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm