Hơn 40 năm trôi qua, những chuyến tàu một thời đạn bom là kỷ niệm chưa hề phai trong tâm trí người lái tàu già Vũ Ngọc Long.
Những đoàn tàu không đèn pha lao đi trong đêm
Đó là thời kỳ Mỹ đưa máy bay leo thang đánh phá miền Bắc. Những chuyến “tàu chợ” thời chiến chật như nêm cối, đung đưa ngọn đèn leo lét treo giữa toa. Ba năm học trôi nhanh, cuối năm 1968, Mỹ tạm ngừng ném bom đánh phá miền Bắc thì lớp máy 17 của Vũ Ngọc Long ra trường. Ông và một vài anh em được phân công công tác ở đoạn đầu máy Thanh Hóa có mật hiệu là K42”.
Ông Vũ Ngọc Long hồi tưởng: “Ngày 10/4/1972, máy bay địch đánh phá trở lại, trút bom xuống ga Vinh mật hiệu V15. Anh Tường, trực ban đầu máy Thanh Hóa giọng gấp gáp điện báo: đầu máy 107 bị đổ, phụ lái tàu Nguyễn Văn Hùng hy sinh, lái tàu Nguyễn Quang Nam bị trúng bom bi… rồi đêm 17/5/1972, máy bay địch trút bom xuống thị xã Thanh Hóa, khu tập thể lái tàu của chúng tôi bị trúng rốc-két bốc cháy dữ dội, tài xế Chiến hy sinh.
Từ trong hầm chữ A khu “chỉnh bị” tác nghiệp đầu máy, tôi về nhìn phía cầu Hàm Rồng đạn cao xạ vút lên đỏ trời, những cột khói bom cuồn cuộn và chúng tôi được lệnh phải sơ tán. Nhưng rồi từ ở Làng Nhồi, Hang Bò, Đà Ninh (Đông Sơn, Thanh Hóa), ngày ngủ tối chúng tôi lại “lên lốp” kéo goòng, 2 chiếc ô tô ray kép với nhau để tiếp tục kéo những toa hàng chi viện chiến trường miền Nam.
Tôi nhớ mãi những giây phút “lạnh” mình khi đưa tàu qua khe Nước Lạnh, đây là điểm nút thắt giao thông giữa đường sắt và đường bộ nối Thanh Hóa, Nghệ An. Giặc Mỹ biến cung đường này thành túi chứa đủ loại bom. Vào tháng 10/1972, lái tàu Ngô Xuân Thắng đã hy sinh tại nơi này. Còn biết bao kỷ niệm làm sao kể hết được… Những đoàn tàu không đèn pha lao đi trong đêm và biết bao dáng người thợ cầu đường, thợ máy, lái tàu đã mãi mãi nằm lại để ánh thép của đường ray luôn được nối liền”.
Hồi còi mừng Thống Nhất
Năm 1975 đất nước hoàn toàn thống nhất. Đến ngày 31/12/1976, đoàn tàu Thống Nhất đầu tiên đã lăn bánh sau 30 năm gián đoạn vì chiến tranh.
“Tết Quang Trung” cho anh em lái tàu
Đã qua hơn 35 năm kể từ ngày non sông thống nhất, ngành đường sắt Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn thử thách. Ông nhớ lại những chuyến tàu cao điểm Tết vào những năm cuối thập niên 70 và những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ 20. Hành khách mua vé tàu đã khổ, đi tàu còn khổ hơn, có thể nói là một cực hình.
“Tôi còn nhớ, toa G (toa hàng) tăng cường thành toa chở khách, không toa-lét, không ghế ngồi, tàu dừng lại ga nào thì mọi người cứ ùa xuống ga để tranh thủ đi vệ sinh, rồi cứ lo nơm nớp sợ tàu chạy mất. Nhớ nhất là mỗi khi dừng tại ga Đà Nẵng, tàu dừng lâu nên hành khách tranh thủ xuống ga tắm rửa vì hành trình đi tàu quá dài. Thời gian chạy tàu từ TP.HCM đến Hà Nội kéo dài đến 72 tiếng, nhanh nhất cũng là 58 tiếng, không có phục vụ ăn uống trên tàu nên hành khách cứ phải ăn độc 1 món “cơm nắm muối vừng”, có lúc tàu chạy chậm so với lịch trình không kịp tới Hà Nội đúng ngày 30 tháng Chạp, thế là những bánh pháo cứ thế “đì đùng” nổ ngoài ô cửa sổ toa xe mừng Tết đến” (hồi đó chưa cấm pháo).
Nhớ lại những chuyến tàu Xuân, ông vui vẻ kể cho chúng tôi nghe về câu chuyện ăn “Tết Quang Trung” của cánh lái tàu. Ông nói đó là một truyền thống, trước Giao thừa vài ngày, các xí nghiệp đầu máy lại tổ chức bữa cơm cũng có dưa cà, bánh chưng, rượu và những bao lì xì để anh em lái tàu mừng năm mới trước khi vào nhiệm vụ đưa những hành khách về quê ăn Tết muộn và những chuyến đi chơi xa của hành khách trong những ngày Tết.
“Có những đêm Giao thừa, tôi điều khiển đoàn tàu xuyên màn đêm, dừng lại ga nào đó vài phút để tránh tàu hay đón khách, anh em nhà ga và nhà tàu lại tranh thủ chúc nhau một năm mới tràn đầy sức khỏe, hạnh phúc. Chỉ vậy thôi là đủ ấm lòng, tiếng còi tàu lại vang lên và đoàn tàu tiếp tục chuyển bánh” - người lái tàu già trầm ngâm.