(TT&VH Cuối tuần) - Nơi cũ đón tôi không phải với câu “thành phố kính chào quý khách” như mọi năm mà đập vào tầm nhìn bằng cái bảng Mobifone xanh đỏ trên nóc nhà cao nhất khu vực gần sân bay. Đường cong quẹo, đo theo tầm nhìn, cái bảng quảng cáo chiếm hết cả chiều rộng con đường chừng 8m. Tôi quen quy mọi thứ ra thóc, thầm nghĩ, kiểu làm này mà ở TP.HCM chắc bạc tỷ. Mà chưa chắc người ta đã cho làm ở một vị trí có tính “chào hỏi” như thế. Ai có cố tình hiểu nhầm cũng thấy chướng, ở đất nước toàn tên thành phố bằng tiếng Việt, tự nhiên, thành phố tận cùng đất nước lại có cái tên... Mobifone! Tôi thấy hơi tự ái. Người bạn đi chung, lần đầu tiên về quê tôi chơi, không biết ý khen hay chê, khều nhẹ: “Chỗ của mày... dữ dội thiệt”.
May mà quên nhanh cái “dữ dội”, để còn đón chờ những thứ “hiền lành” của riêng mình. Một năm rồi còn gì, dọc con đường từ sân bay về nhà, tôi cứ chờ hoài tới những chỗ “cột mốc”, để nghe cảm giác của những ngày tháng cũ đang trở lại. Lúc nào cũng mang trong mình cái ước muốn nhỏ, mong quê cũ, những kỷ niệm xưa cứ đứng yên đó, chờ một mình mình. Chỗ đầu tiên gặp từ sân bay về nhà sẽ là quán cà phê sân vườn Gia Nguyễn, nơi xảy ra tất cả những chuyện yêu thương, giận hờn trong đám bạn tôi. Đi chừng trăm mét nữa, bên trái, phía sông sẽ có một quán cháo đậu xanh vịt xiêm, với những tộ cháo đậu nhiều hơn gạo, thịt vịt, và chị bán hàng nhàu nát một bộ áo màu đậu xanh (chắc chị mê thứ này nhất trên đời). Năm phút xe đạp nữa, bên phải là nhà thằng Hưng, học chung lớp tôi, núp sau một tiệm áo cưới rất nhiều màu. Rồi đến quán nước mía có nhiều... ruồi!

Mà tôi chờ là chờ vậy thôi, chứ biết làm gì có chuyện mọi thứ đứng yên đợi một đứa mỗi năm chỉ về quê một lần. Quán cà phê thay đổi hiện trạng, tháo những chùm đèn chớp tắt, thay vào là lớp sương phun nhè nhẹ. Quán cháo vịt không còn mang tên Diễm Hồng mà sửa lại có lẽ để bớt... trừu tượng hơn: “Có bán cháo vịt”. Nhà thằng Hưng đã nhượng hẳn cho tiệm áo cưới, đi đâu mất. Quán nước mía được thay bằng một văn phòng chữ to “Báo X.- phóng viên thường trú” (card của mấy anh phóng viên lúc này “to” ghê)... Nhiều thứ nữa trên con đường từ sân bay về nhà cho tôi cái cảm giác nửa hân hoan quê mình giờ cũng đổi mới “bằng chị bằng em”, nhưng cũng tủi tủi, rằng có ai đó làm lem luốc (thậm chí lấy cắp) vài thứ trong ngăn tủ đựng những tấm hình cũ đầy kỷ niệm.
Tôi “lưng lửng” cảm giác quê nhà, còn đứa bạn, bằng cái nhìn khách khứa, phán thẳng qua vài trăm mét săm soi: “Xứ mày chơi sang”. Sang thật, chừng 20 mét lại thấy một nhà nghỉ, khách sạn. Chúng mọc san sát, như thể đang thi nhau về độ cao, số lượng màu sắc, nhiều đến nỗi tôi nghĩ rằng nếu toàn dân thành phố này vào ở chắc... chật một chút, nhưng cũng đủ. Nếu lần đầu đến, chắc bạn nghĩ xứ tôi chuyên làm du lịch. Thì đương nhiên chỗ nào mà không có những thứ thu hút sự tò mò của khách thập phương, huống hồ gì cách thành phố này chừng vài chục cây là biển (tuy không thơ mộng nhưng rất rộng rãi), phải phát triển du lịch để làm giàu là tất yếu, không xây cho bây giờ thì xây cho tương lai.
Chuyện xây khách sạn ầm ầm một cách khác thường, kiến trúc nhiều màu, nhiều tầng, cái nào cũng có những cây cột to đùng, như thể đua cùng các khối bê tông khổng lồ của Sài Gòn, cũng làm mát mắt dân xứ mình. Những ông bà chủ có tiền một chút làm khách sạn là nhàn nhã mà lại có vẻ sang trọng nhất trong các nghề. Khách sạn mọc nhiều suy cho cùng... được cả mọi bề. Cũng là do tính tôi hay càm ràm, thắc mắc rồi sinh ra đoán mò lung tung, cái khách sạn to đùng này, cái nhà nghỉ cao chọc trời kia xây ngày càng “chặt chém” nhau về quy mô là của đại gia này, đại gia nọ rửa tiền. Lý do khác là có lẽ do dân địa phương mình bây giờ có nhu cầu... không ngủ ở nhà ngày càng nhiều (chứ du lịch chưa đến hồi hưng thịnh). Tôi đoán vậy và thấy mình thật sự không sai khi chứng kiến đám trẻ choai choai mặt búng ra sữa, từng cặp, từng cặp dắt nhau ra khỏi nhà nghỉ vào sáng sớm. Anh nhân viên tiếp tân giải thích giùm: “Lỡ đi khuya quá không về được nhà”.
Một cách hình thức, một trong những thứ để người ta đánh giá thành phố “chuyển mình” là nhìn vào độ “bê tông phủ mái lá”, nhà cao tầng thay thế những khối thấp lè tè. Thật lòng, nhìn những khối bê tông nhiều màu ở xứ xở của mình, tôi thấy như cái áo xanh đỏ tím vàng được tô vẽ, mặc lên thân người gầy gò, đứng trước gió, áo bay bay nên nhìn thấy có vẻ “rung rinh” còn con người ấy thì e dè, yếu đuối lắm...
Ở nhà được vài ngày, tôi phát hiện thêm nhà hàng, quán nhậu cũng thi đua cho “cân bằng” với khách sạn. Cách đây một năm thôi, vì tài nấu ăn tệ hại, tôi từng hoang mang, đỏ mặt khi phải giới thiệu với bạn bè về những món ăn quê. Bây giờ dắt bạn về thì quá yên tâm vì nhìn đâu cũng thấy “nhậu” và “đặc sản”. Xóm nào, con đường nào cũng nhiều đèn, nhiều tiếng nói cười, thành phố thành ra rôm rả chén bát hàng đêm, thay vì chẳng có tụ điểm giải trí nào. Thấy bạn bè nhiều thời gian để “giết” hơn, tôi vừa mừng lại vừa thương...
Cách đây 10 năm, tôi từng ước ao thứ hiếm có trên đời, phải chi tình bạn cũ thời phổ thông, dù xa nhau nhưng đừng bao giờ phai nhạt. Bọn tôi, mỗi đứa sống một chỗ, hàng năm, gặp nhau đúng một lần, ráng duy trì mối dây tình cảm mong manh. Với tôi, gặp bạn bè là một việc quan trọng trong những kế hoạch về quê ngày Tết, vừa vui, vừa thân tình, chia tay lúc nào cũng bùi ngùi. Tôi hay là người xung phong nhấc máy gọi tam gọi tứ, gom càng đông bạn càng tốt. Nhưng năm nay, cũng không biết sao lại tự cho mình cái quyền được từ chối cuộc họp lớp đã bày sẵn ở nhà hàng món nướng lớn nhất thành phố. Ngoài lý do rất hợp lý, bệnh viêm họng hành hạ, lại thấy mình có thêm bệnh sợ... nhậu (và sợ cả quán nhậu). Tôi ngán ngẩm cảm giác ngồi ề à bên mười mấy thùng bia, ói mửa, mùi khói nướng bay vào người làm ai cũng tanh rình. Câu chuyện họp mặt nhạt nhẽo dần qua từng năm, bởi rượu bia chan chát làm người ta nhớ trước, quên sau. Vui một chút ban đầu, đến hồi giữa và cuối, chỉ còn cụng ly côm cốp, rồi đứa nằm quắt queo, đứa đi loạng choạng, đường ai nấy về, cảnh buồn bã, ê chề như tiệc chia tay. Vài người trong số đám bạn của tôi thấy nhậu là vui nhất, hợp lý nhất cho những cuộc chuyện trò. Nhưng một số còn lại thì không thấy như vậy. Cứ thế mà số lượng người họp lớp qua từng năm cứ giảm dần.
Thêm lý do tôi dị ứng với những bàn nhậu quê mình, chắc cũng vì tai nạn đêm giao thừa. Tại trụ sở bảo vệ dân phố khu nhà tôi ở, người ta trải một chiếu đầy rượu bia, quay đầu gà trong dĩa, ra luật “đầu gà chĩa về phía người nào thì người đó uống một ly và phải ca một bài”. Đã là “phải ca” mà phát ra loa thì... dễ tưởng tượng nó khủng khiếp đến mức nào! Gần 3 giờ sáng, khi những giọng ca đã trở nên thều thào vì hơi men thì cái loa trở thành nơi phát thanh “tâm sự đêm khuya” của những bạn nhậu say mèm... Sáng mùng Một, cả khu nhà ai nấy mắt trắng đờ vì... âm nhạc. Hình như đó không phải là chuyện cá biệt, dọc đường đi, tôi thấy đa phần người ta thích nhậu, thích hát và cho cả xóm cùng nghe mình hát.
Lạ nhất là “vụ án” xảy ra ở ngay trong bệnh viện. Mùng Một, Tết vắng người, bảo vệ, giữ xe, y tá, ngồi chung một chiếu uống rượu đế, chơi... hát đối đáp qua micro. Chị tôi mới sinh con đêm 30, bông gòn nhét lỗ tai chắc cũng đỡ phần nào. Chỉ thương cho đứa cháu mới chào đời, chắc không hiểu tại sao người trần đời này lại trách móc mình: “tình đời khi trắng, khi đen”, “bạn tôi em cũng không chừa”..., nên khóc suốt mấy ngày.
Mẹ nói tôi là kiểu mới đi có một chút về ngoe nguẩy chê quê mình, như mấy anh chị Việt kiều về Việt Nam sợ nóng, bụi. Thật tình, tôi chưa hề chán ngán, chỉ thấy mình đôi lúc nghẹn ngào khi cố chấp tìm về những thứ cũ, thói quen cũ. Cái kiểu “nhìn đâu cũng thấy vi trùng”, cũng sợ trở thành một bác sĩ hay càm ràm, dở hơi, người ở quê hay nói là “bày đặt”. Tôi, sống cả chục năm ở xứ được coi là có chút ánh sáng văn minh, nhưng kỳ này chắc phải trị gấp cái bệnh... lỗi thời, không theo kịp thiên hạ.
Tết này, mẹ bảo chưa bao giờ nhìn thấy tôi ở nhà nhiều một cách khác thường như vậy. Có lẽ, nhà, từ chung chung mà người ta bảo nhớ mỗi khi nghĩ về quê, là nơi tôi còn thấy mình quen thuộc nhất. Mẹ nói định ra giêng sẽ làm cho nó theo kiểu Hàn Quốc.
Sang năm, tôi lạc đâu cho ra khỏi xứ người giữa quê mình?!
Đỗ Duy