Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị đặt khu vực kinh tế tư nhân vào vị trí "một động lực quan trọng nhất" của nền kinh tế quốc gia, đồng thời đặt mục tiêu đến năm 2030 khu vực này đóng góp khoảng 55-58% GDP, được tạo lập môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, ổn định và được khuyến khích tham gia sâu hơn vào các dự án quan trọng quốc gia, các lĩnh vực chiến lược, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và các mô hình hợp tác công tư.
1. Thực ra thì đây không phải là vấn đề mới. Kết luận số 70-KL/TW, ngày 31/1/2024 của Bộ Chính trị về phát triển thể dục, thể thao trong giai đoạn mới đã yêu cầu hoàn thiện khung khổ pháp lý về kinh tế thể thao, quyền sở hữu, chuyển nhượng, khai thác bản quyền và tài trợ, đồng thời thúc đẩy xã hội hóa. Sau đó, Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 được Chính phủ phê duyệt tiếp tục khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập và vận hành câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp, hình thành các cơ sở đào tạo vận động viên theo mô hình doanh nghiệp, phát triển dịch vụ thể thao, sự kiện thể thao, du lịch thể thao, cắt giảm điều kiện kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận tài chính, khoa học-công nghệ, chuyển đổi số.
Nói cách khác, nếu Nghị quyết 68 là thông điệp chung của quốc gia về vai trò của kinh tế tư nhân, thì thể thao là một phép thử rất điển hình: Lĩnh vực này có sức lan tỏa xã hội lớn, có khả năng huy động nguồn lực ngoài ngân sách, có thể gắn với du lịch, tiêu dùng, công nghệ và thương hiệu, nhưng đồng thời cũng bộc lộ rất rõ một vấn đề cố hữu của Việt Nam là chính sách chủ trương đi trước, còn thể chế thực thi và mô hình kinh doanh đi sau. Chính sự lệch pha ấy khiến thể thao Việt Nam có vốn tư nhân, có doanh nghiệp, có "ông bầu", nhưng chưa thật sự có một thị trường thể thao phát triển đầy đủ.
2. Tất nhiên, không thể nói kinh tế tư nhân đứng ngoài thể thao Việt Nam. Nền tảng thị trường cho thể thao đã tồn tại và đang được mở rộng. Theo số liệu tổng kết năm 2024, tỷ lệ người tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên trên toàn quốc ước đạt 37,5%, tỷ lệ gia đình thể thao đạt 28,3%. Thông tin của Cục Thể dục thể thao Việt Nam cũng cho biết hiện có hơn 50.000 câu lạc bộ thể thao cộng đồng và khoảng 40.000 giải đấu được cấp phép tổ chức hằng năm. Chỉ riêng những con số đó đã cho thấy thể thao không còn là "ngách nhỏ" mà đang trở thành một thị trường người dùng đủ lớn để thu hút doanh nghiệp.
Bóng đá là nơi vốn tư nhân hiện diện sâu và rõ nhất từ khâu tham gia đến tài trợ, tổ chức giải và bản quyền. Cụ thể, mùa 2024/2025, V-League 1 có nhà tài trợ chính là LPBank; FPT Play tiếp tục nắm quyền khai thác truyền thông và thương mại của hệ thống giải chuyên nghiệp quốc gia theo thỏa thuận nhiều mùa và trước đó, mùa V-League 2023 đã ghi nhận bước ngoặt khi giá trị bản quyền truyền hình của giải lần đầu đạt 2,5 triệu USD, được thanh toán bằng tiền mặt thay vì quy đổi trên sóng như trước.

Dòng tiền tư nhân trong bóng đá Việt Nam không còn chỉ là "nuôi đội bóng và đổ tiền để đá giải", mà đã dịch chuyển sang đào tạo trẻ, cơ sở vật chất, vận hành học viện và phát triển nhân lực dài hạn. Ngoài bóng đá, các môn thể thao khác như: Bóng rổ, golf, marathon... hay gần nhất là pickleball cũng thu hút được doanh nghiệp tư nhân tham gia đầu tư.
3. Vấn đề của thể thao Việt Nam hôm nay không phải "không có tiền tư nhân", mà là tiền đó đi vào rất lệch. Phân tích trên cổng thông tin Cục Thể dục thể thao cho biết Việt Nam hiện có 41 liên đoàn, hiệp hội thể thao quốc gia, nhưng cơ chế hoạt động của nhiều tổ chức vẫn chưa hoàn thiện, chưa thật sự độc lập về nhân sự và tài chính với cơ quan quản lý nhà nước.
Cũng theo dòng thông tin nàyy, mới chỉ có một số môn như bóng đá, boxing, muay, kickboxing, MMA, bóng chuyền, bóng rổ, quần vợt, cầu lông vận hành theo cơ chế chuyên nghiệp ở các mức độ khác nhau. Nói ngắn gọn: Thể thao Việt Nam đã có những "thị trường nhỏ", nhưng chưa có một "thị trường hệ thống".
Điều đó dẫn tới một thực tế rất rõ: Tư nhân tham gia mạnh ở những nơi có khán giả, có hiệu ứng truyền thông, có doanh thu phụ trợ và có khả năng định giá thương hiệu; còn những mắt xích ít hấp dẫn về thương mại thì gần như vẫn bỏ trống.
Thực tế, không phải môn thể thao nào cũng có thể kêu gọi tài trợ như bóng đá nam, nhiều liên đoàn trong nước từ khi thành lập đến nay mức thu từ tài trợ gần như bằng 0, còn nhiều môn thế mạnh của Việt Nam ở Olympic như cử tạ, taekwondo vẫn rất khó gọi tài trợ và vì thế nguồn lực cho vận động viên, huấn luyện viên luôn chật vật. Nhận xét này dù được nêu từ trước, đến nay vẫn còn giá trị, bởi cấu trúc hút vốn của thể thao Việt Nam về cơ bản chưa thay đổi: Mảng nào đông người xem thì mạnh, mảng nào ít người xem thì gần như tự bơi.
4. Thực trạng những năm gần đây cho thấy kinh tế tư nhân không hề đứng ngoài thể thao Việt Nam. Nó đã làm sâu bóng đá chuyên nghiệp, dựng nên một phần thị trường bóng rổ, biến marathon thành sản phẩm du lịch-sự kiện, biến golf thành phân khúc kinh tế cao cấp, và bắt đầu xuất hiện trong dinh dưỡng, nội dung số, thương mại thể thao, đào tạo trẻ.
Nhưng dòng vốn ấy chủ yếu mới chạy tới những nơi thị trường đã đủ nhìn thấy được: Có khán giả, có thương hiệu, có bản quyền, có bán lẻ, có du lịch, có khả năng thu hồi vốn. Ở phần còn lại của hệ sinh thái thể thao, nhà đầu tư vẫn phải đối diện với quá nhiều ẩn số: Quyền lợi không rõ, thủ tục không đều, hạ tầng khó khai thác, dữ liệu yếu, mô hình doanh thu mỏng.
Vì thế, câu hỏi trung tâm không còn là "làm sao kêu gọi doanh nghiệp yêu thể thao hơn", mà là "làm sao để thị trường thể thao đủ đáng tin với doanh nghiệp". Nếu Nghị quyết 68 thực sự muốn kinh tế tư nhân trở thành động lực phát triển mới, thì thể thao phải là một lĩnh vực được thể chế hóa rất cụ thể: Luật rõ, quyền rõ, thủ tục rõ, hợp đồng rõ, dữ liệu rõ, cơ chế chia sẻ rủi ro rõ. Khi đó, vốn tư nhân sẽ không chỉ xuất hiện dưới dạng "ông bầu" hay tài trợ phong trào, mà sẽ đi vào đúng thứ Việt Nam đang thiếu nhất: Hạ tầng, khoa học, đào tạo, công nghệ, bản quyền và những mô hình kinh doanh dài hạn.
Chỉ đến lúc ấy, thể thao Việt Nam mới thật sự chuyển từ xã hội hóa theo kiểu vận động sang kinh tế thể thao theo đúng nghĩa của một ngành.
Nói thể thao Việt Nam đã xã hội hóa là đúng, nhưng nói xã hội hóa đã trở thành trụ cột bền vững thì chưa đúng. Nó mới tạo ra một số mảng sáng - bóng đá, marathon, golf, bóng rổ, phòng tập, nội dung số, kể cả môn thể thao thời thượng lúc này là Pickleball - chứ chưa tạo ra dòng vốn đủ rộng để nâng toàn hệ sinh thái thể thao. Nói cách khác, Việt Nam có nhiều trường hợp thành công trong việc kéo doanh nghiệp vào thể thao, nhưng chưa có một cơ chế đủ mạnh để biến những trường hợp cá biệt ấy thành chuẩn mực phổ biến.
Muốn kéo kinh tế tư nhân vào thể thao sâu hơn, Việt Nam phải chuyển từ tư duy "xin xã hội hóa" sang tư duy "thiết kế thị trường". Việc đầu tiên là dịch chuyển tinh thần của Nghị quyết 68 sang một chương trình chuyên biệt cho thể thao: Làm rõ quyền thương mại, quyền hình ảnh, quyền dữ liệu, quyền khai thác sự kiện, quyền đặt tên giải đấu và công trình; chuẩn hóa quy trình cấp phép; mở rộng khuôn khổ PPP, đầu tư tư - sử dụng công, hoặc thuê quản lý vận hành đối với công trình thể thao công.
Việc thứ hai là biến ưu đãi từ "có trên giấy" thành "tính được vào mô hình tài chính". Các ưu đãi đất đai, thuế và tín dụng theo chỉ hấp dẫn khi nhà đầu tư có thể dự báo dòng tiền 10-15 năm, có mặt bằng sạch, có quyền khai thác rõ ràng và thủ tục nhất quán giữa trung ương với địa phương.
Việc thứ ba là mở công trình công theo logic hiệu quả. Hạ tầng thể thao hiện nay bị nghẽn không hẳn vì Việt Nam hoàn toàn không có sân bãi, mà vì nhiều tài sản công chưa được tổ chức lại để khai thác kinh tế. Nếu Nhà nước giữ vai trò chủ sở hữu, còn doanh nghiệp được thuê vận hành theo chỉ tiêu đầu ra - số ngày khai thác, doanh thu, bảo trì, mức sử dụng cộng đồng, mức giá trần - thì sân vận động và nhà thi đấu có thể trở thành điểm kết nối của giải đấu, concert, hội chợ, marathon, thể thao học đường, giải phong trào, bán lẻ và trải nghiệm thương hiệu.
Việc thứ tư là phân vai lại giữa khu vực công và khu vực tư. Những mảng có thể thương mại hóa mạnh như bóng đá, golf, chạy bộ, fitness, phát sóng số, commerce và du lịch thể thao phải được trao không gian thị trường lớn hơn. Trong khi đó, các môn Olympic hoặc ít sức hút khán giả không thể chỉ chờ tài trợ ngẫu hứng mà cần mô hình vốn pha trộn: Quỹ phát triển vận động viên, tài trợ thiết bị chuyên dụng, đặt hàng khoa học-thể thao, hỗ trợ thuế cho doanh nghiệp đồng hành dài hạn, cơ chế matching fund giữa ngân sách với doanh nghiệp.