(TT&VH) - LTS: Sự việc có vẻ như đã và sẽ kết thúc êm đẹp với quyết định của lãnh đạo TP. Hà Nội tiếp tục cho thi công đoạn đường Văn Cao cắt xuyên Hoàng thành ra đường Thụy Khuê… Còn ngành văn hóa, khảo cổ thì khẩn trương nghiên cứu, thực hiện thu thập hiện vật trong phạm vi đã phát lộ, xong trước ngày 20/5; tạo điều kiện để chủ đầu tư dự án tiếp tục triển khai liên tục các hạng mục, công việc.
Có một mâu thuẫn có vẻ như là “bất khả kháng” giữa bảo tồn di sản và phát triển. TT&VH xin giới thiệu bài viết của TS Nguyễn Việt (Giám đốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á) cùng cộng sự. Không đứng thiên lệch về phía nào, bài viết này hy vọng sẽ đưa ra một lời giải cho mâu thuẫn trên.
Từ ngày có Luật Di sản văn hóa, Hà Nội đã trải qua nhiều vấn đề nổi cộm giữa xây dựng và bảo tồn: Việc xây dựng trên khu đất cuối đường Trần Phú, nạo vét kè sông Kim Ngưu, làm đường qua Xã Đàn... Nhân sự việc xảy ra ầm ĩ ở công trường “phá Hoàng thành thông đường Văn Cao”, xin có một số suy nghĩ như sau:
“Lý” và Luật
Có thể nói, ở vùng đất nội thành Hà Nội, đụng đâu cũng là di tích. Không thể nói việc tổ chức, cấp phép thi công đoạn đường Văn Cao cắt xuyên đường Hoàng Hoa Thám, cũng như tới đây việc khai thông đường Đào Tấn cắt tường thành Bưởi nối đường Nguyễn Khánh Toàn là không có nguy cơ phạm phải di tích. Thế nhưng tại sao, chúng ta vẫn để xảy ra những chuyện bên đơn vị xây dựng “vô tư” phá di tích, chỉ cốt sao được việc của xây dựng? (Và khi sự việc bùng phát, ngành văn hóa cũng “vô tư” tìm cách ngăn cản xây dựng bất chấp tiến độ của bên xây dựng?). Nên nhớ rằng cả hai “Sở” chủ quản xây dựng và bảo tồn đoạn đang thi công trên đường Văn Cao đều cùng nằm chung dưới sự chỉ đạo của UBND TP.Hà Nội.
Được biết lý do: Bên làm đường tự cho phép phá thành vì không thấy “biển cấm vi phạm di tích” của ngành văn hóa, vì vậy không biết đó là đoạn Hoàng thành. Nghe cũng có lý, vì như Luật Giao thông Đường bộ, không có biển cấm thì tôi cứ đi. Nhưng nghe có lý mà lại không đúng luật. Luật Di sản văn hóa ghi rõ: Mọi hoạt động xây dựng đều phải xin ý kiến của ngành văn hóa về khả năng có hay không có di tích cần được bảo tồn hay điều tra thám sát khảo cổ trước khi thi công. Hình như công trình thi công này đã không trình ra được giấy phép đồng ý đó của Sở VH,TT&DL Hà Nội. Câu hỏi đặt ra là các nhà thầu xây dựng có quan tâm đến Luật Di sản văn hóa hay không? Câu trả lời dễ thấy là hầu hết các nhà thầu xây dựng cũng như nhiều cấp chính quyền đã và đang tìm cách lờ đi làm, như không biết để bỏ qua khâu kiểm tra cấp phép của ngành văn hóa trước khi xây dựng.
Đây là hiện trạng có quy mô toàn quốc, ví như hàng triệu mét khối đất đá của các công trình cầu đường Việt Nam đều không bao giờ có sự chứng kiến của các nhà khảo cổ, địa chất.
Những bài giải có sẵn cho sự bảo tồn và phát triển
Tôi nhớ câu chuyện vào năm 2000, khi tham gia dự thầu sửa sang quốc lộ 1A, theo quy định của bên cấp vốn là World Bank, một nhà thấu lớn của Pháp đã nhờ Giáo sư Nguyễn Thị Nhâm Tuyết tìm cho một nhà khảo cổ học có bằng cấp và ngoại ngữ đứng tên giám sát khảo cổ trong toàn bộ quá trình thi công. Chị Tuyết đã giới thiệu tôi, và hồ sơ khoa học của tôi trở thành một tiêu chuẩn trong hồ sơ dự thầu.
Điều này không lạ, vì đó là luật di sản chung mang tính toàn cầu. Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam cũng đã bao quát cả tinh thần vấn đề như vậy. Trong thời gian làm việc ở CHLB Đức, tôi đã từng thăm và làm việc với một công ty khảo cổ học do một người bạn là tiến sĩ Walke làm giám đốc. Công ty của ông đã nhận được hợp đồng làm giám sát khảo cổ cho 400 km đào đường ống dẫn khí gas từ Nga sang châu Âu, đoạn đi qua địa phận nước Đức. Tiến sĩ khảo cổ học Ingo Heindel là người thuộc “biên chế” của đơn vị thi công trong suốt hai năm trời liên tục. Không một nhát gầu ủi nào thiếu sự chứng kiến của ông. Và hàng ngàn di vật, di tích đã được phát hiện, khai quật mà không hề làm chậm tiến độ của bên xây dựng. Bởi vì nhà khảo cổ trong trường hợp đó thuộc biên chế đơn vị thi công và chính là người có trách nhiệm khẩn trương giải phóng mặt bằng cho bộ phận xây dựng, như công việc của công binh dỡ mìn trong chiến tranh vậy.
Đỉnh cao của sự kết hợp giữa xây dựng và bảo tồn di sản phải kể đến sự ra đời và tồn tại từ nhiều chục năm nay của Viện Khảo cổ học trực thuộc Bộ Giao thông Vận tải nước Cộng hòa Ireland. Đây là điều tôi ấn tượng nhất khi tham dự Đại hội Khảo cổ học Thế giới lần thứ 6 (WAC 6) năm 2008 tại Dublin, thủ đô Ireland. Để đảm bảo luật di sản và không ảnh hưởng đến kế hoạch và tiến độ công trình, Bộ Giao thông Vận tải Ireland đã có sáng kiến thay vì phải bị động ký hợp đồng giám sát, phát hiện, đánh giá di sản, khai quật giải phóng mặt bằng đã xây dựng một Viện Khảo cổ học với nhiều giáo sư nổi tiếng chuyên trách và trở thành một bộ phận của ngành mình. Họ còn biết kết hợp giữa làm đường với di sản nhằm biến những di tích đó trở thành một bộ phận làm tăng giá trị của các tuyến đường, nhờ ý tưởng biết kết hợp xây dựng với tư duy kinh tế, du lịch.

Thi công đường Văn Cao xuyên qua đường Hoàng Hoa Thám
Việc tôn trọng luật di sản của các nhà thầu xây dựng phản ánh tình trạng dân trí cao của một đất nước, từ đó làm nảy sinh những cách giải hay cho bài toán mà nếu nhìn nông cạn có vẻ như là mâu thuẫn, giữa bảo tồn và phát triển. Điều này lý giải tại sao ở Nhật Bản có tới 3.000 nhà khảo cổ học thực hiện hàng năm trung bình 2.000 cuộc khai quật. Hầu như mỗi một quận, huyện (Profecture) của Nhật đều có một đơn vị như một Viện Khảo cổ để giải quyết mọi vấn đề văn hóa, di sản và giải phóng mặt bằng theo luật di sản. Tại đây, vừa là ý thức văn hóa cao của các nhà thầu, vừa là sự nghiêm minh của pháp luật và cả những cách giải hợp lý đã khiến sự nghiệp bảo tồn di sản của đất nước này không trở thành một trở ngại đối với công cuộc phát triển với tốc độ chóng mặt. Điều này cũng chỉ làm được với tính kế hoạch hóa cao, ổn định, đủ để công cuộc điều tra thám sát khảo cổ diễn ra hàng năm trời trước khi công trình đi vào hoạt động. Nhà thầu phải chịu một khoản kinh phí chung (theo diện tích) và nhà nước có nguồn kinh phí nghiên cứu bảo tồn hỗ trợ (theo nội dung di sản).
Luật di sản đang được thực thi thế nào?
Theo Luật Di sản Văn hóa của chúng ta hiện nay thì trên toàn quốc có khoảng 200 người có đủ điều kiện chuyên môn khai quật khảo cổ học. Có nghĩa rằng những người đó đã được tốt nghiệp chuyên ngành khảo cổ học ở bậc Đại học.
Tuy nhiên, trên thực tế, số người có thể được cấp phép chỉ vỏn vẹn chừng 30 người (15 ở Viện Khảo cổ học, 10 ở các trường đại học có chuyên ngành khảo cổ và 5 ở các bảo tàng ). Một cuộc điều tra, thám sát khảo cổ được triển khai nhanh nhất cũng mất một tuần, còn nếu như khai quật vài trăm mét vuông cũng mất hàng tháng, thậm chí hàng năm trời. Trong khi đó, số lượng đất đai cấp phép xây dựng hàng năm lên đến con số hàng chục triệu mét vuông.
Việc cấp phép khai quật của ngành văn hóa nhiều khi còn rất chậm trễ và khó khăn phức tạp, không theo luật. Xin đơn cử trường hợp của tỉnh Hưng Yên. Năm 2002, khi phát hiện một mộ thân cây khoét rỗng xuất lộ do đào mương ở làng Động Xá, huyện Kim Động, Sở VH-TT lúc đó của tỉnh Hưng Yên( nay là Sở VH,TT&DL) đã làm công văn xin phép Cục Di sản cho phép các nhà khảo cổ học kiêm nhiệm và chính nhiệm của Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á là giáo sư Cao Xuân Phổ, tiến sĩ Ngô Thế Phong và tiến sĩ Nguyễn Việt phối hợp với Bảo tàng tỉnh khai quật chữa cháy, kết quả là cho đến tận hôm nay, sau 9 năm, vẫn chưa bao giờ Cục Di sản trả lời công văn đó của Sở. Trong thực tế, Sở phải phá luật, tự tổ chức khai quật chữa cháy không giấy phép. Sau này, tôi được đồng chí Cục phó Cục Di sản giải thích: Bộ không cho vì các anh không “có tóc” để nắm. Luật Di Sản có quy định “tóc tai” gì đâu. Nhưng khi thực hiện, lại thành ra như vậy.
Điều nêu trên phản ánh cơ sở thiếu khả thi đầu tiên của Luật Di sản Văn hóa, đó là không đủ lực lượng chuyên môn để đồng nhịp với tốc độ xây dựng nhanh của đất nước trong thời kỳ phát triển. Những người xây dựng luật đã không giúp Nhà nước chuẩn bị lực lượng, đội ngũ thực thi pháp luật. Di sản và công tác của các nhà khảo cổ vô hình trung trở nên mối đe dọa với mọi công trình xây dựng. Thêm vào đó, khi phát hiện vụ việc, những người làm công tác khảo cổ, văn hóa lại muốn ra oai trừng phạt, gây khó cho kẻ vi phạm, chứ không mang ý thức xây dựng, cùng nhau gỡ mối. Vụ việc khai quật khảo cổ ở Xã Đàn (Đống Đa, Hà Nội) đã gây ách tắc giao thông, nhức nhối hàng năm trời với người dân cũng như chính quyền các cấp thành phố, đến nỗi Thủ tướng phải có ý kiến chỉ đạo. Đó là nguyên nhân góp phần làm cho nhiều nhà thầu xây dựng đều tìm cách lẩn tránh thực thi Luật Di sản Văn hóa.
Hầu như rất hiếm công trình xây dựng được tiến hành theo đúng Luật Di sản Văn hóa - đó là được điều tra thăm dò khảo cổ học trước khi thi công. Giấy phép đủ lệ của ngành văn hóa nếu có chỉ dựa trên Bản đồ Di tích đã xếp hạng, vì thế nếu ngoài phạm vi những di tích đã xếp hạng đó thì ngành văn hóa có quyền cho phép, hoặc có quyền lờ đi. Đó cũng là nguyên do của vụ việc “phá Hoàng thành” làm đường Văn Cao kể trên.
Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, nước đã đến chân, những bước nhảy vội cuối cùng đua gấp bù với thời gian thong dong trước đó. Nếu biết làm kế hoạch tốt và có ý thức đầy đủ với Đại lễ và với di sản thì đâu có vụ “phá Hoàng thành” làm đường Văn Cao nói trên. Đến tình trạng như thế này thì quyết định của Thành phố ngày 14/5 vừa duy trì tiến độ thi công, vừa dành diện tích khảo cổ, là lối thoát duy nhất đúng đắn. Nhưng cần ghi nhớ rằng, đó là một xử lý đúng đắn trong tình huống đã làm sai, để tìm bài giải tốt nhất cho hoàn cảnh hiện tại. Âu cũng là một bài học tốt để chúng ta thêm một lần nữa tập dượt thành thục thực thi Luật Di sản văn hóa cho ngày mai.
Có một mâu thuẫn có vẻ như là “bất khả kháng” giữa bảo tồn di sản và phát triển. TT&VH xin giới thiệu bài viết của TS Nguyễn Việt (Giám đốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á) cùng cộng sự. Không đứng thiên lệch về phía nào, bài viết này hy vọng sẽ đưa ra một lời giải cho mâu thuẫn trên.
Từ ngày có Luật Di sản văn hóa, Hà Nội đã trải qua nhiều vấn đề nổi cộm giữa xây dựng và bảo tồn: Việc xây dựng trên khu đất cuối đường Trần Phú, nạo vét kè sông Kim Ngưu, làm đường qua Xã Đàn... Nhân sự việc xảy ra ầm ĩ ở công trường “phá Hoàng thành thông đường Văn Cao”, xin có một số suy nghĩ như sau:
“Lý” và Luật
![]() TS Nguyễn Việt
|
Được biết lý do: Bên làm đường tự cho phép phá thành vì không thấy “biển cấm vi phạm di tích” của ngành văn hóa, vì vậy không biết đó là đoạn Hoàng thành. Nghe cũng có lý, vì như Luật Giao thông Đường bộ, không có biển cấm thì tôi cứ đi. Nhưng nghe có lý mà lại không đúng luật. Luật Di sản văn hóa ghi rõ: Mọi hoạt động xây dựng đều phải xin ý kiến của ngành văn hóa về khả năng có hay không có di tích cần được bảo tồn hay điều tra thám sát khảo cổ trước khi thi công. Hình như công trình thi công này đã không trình ra được giấy phép đồng ý đó của Sở VH,TT&DL Hà Nội. Câu hỏi đặt ra là các nhà thầu xây dựng có quan tâm đến Luật Di sản văn hóa hay không? Câu trả lời dễ thấy là hầu hết các nhà thầu xây dựng cũng như nhiều cấp chính quyền đã và đang tìm cách lờ đi làm, như không biết để bỏ qua khâu kiểm tra cấp phép của ngành văn hóa trước khi xây dựng.
Đây là hiện trạng có quy mô toàn quốc, ví như hàng triệu mét khối đất đá của các công trình cầu đường Việt Nam đều không bao giờ có sự chứng kiến của các nhà khảo cổ, địa chất.
Những bài giải có sẵn cho sự bảo tồn và phát triển
Tôi nhớ câu chuyện vào năm 2000, khi tham gia dự thầu sửa sang quốc lộ 1A, theo quy định của bên cấp vốn là World Bank, một nhà thấu lớn của Pháp đã nhờ Giáo sư Nguyễn Thị Nhâm Tuyết tìm cho một nhà khảo cổ học có bằng cấp và ngoại ngữ đứng tên giám sát khảo cổ trong toàn bộ quá trình thi công. Chị Tuyết đã giới thiệu tôi, và hồ sơ khoa học của tôi trở thành một tiêu chuẩn trong hồ sơ dự thầu.
Điều này không lạ, vì đó là luật di sản chung mang tính toàn cầu. Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam cũng đã bao quát cả tinh thần vấn đề như vậy. Trong thời gian làm việc ở CHLB Đức, tôi đã từng thăm và làm việc với một công ty khảo cổ học do một người bạn là tiến sĩ Walke làm giám đốc. Công ty của ông đã nhận được hợp đồng làm giám sát khảo cổ cho 400 km đào đường ống dẫn khí gas từ Nga sang châu Âu, đoạn đi qua địa phận nước Đức. Tiến sĩ khảo cổ học Ingo Heindel là người thuộc “biên chế” của đơn vị thi công trong suốt hai năm trời liên tục. Không một nhát gầu ủi nào thiếu sự chứng kiến của ông. Và hàng ngàn di vật, di tích đã được phát hiện, khai quật mà không hề làm chậm tiến độ của bên xây dựng. Bởi vì nhà khảo cổ trong trường hợp đó thuộc biên chế đơn vị thi công và chính là người có trách nhiệm khẩn trương giải phóng mặt bằng cho bộ phận xây dựng, như công việc của công binh dỡ mìn trong chiến tranh vậy.
Đỉnh cao của sự kết hợp giữa xây dựng và bảo tồn di sản phải kể đến sự ra đời và tồn tại từ nhiều chục năm nay của Viện Khảo cổ học trực thuộc Bộ Giao thông Vận tải nước Cộng hòa Ireland. Đây là điều tôi ấn tượng nhất khi tham dự Đại hội Khảo cổ học Thế giới lần thứ 6 (WAC 6) năm 2008 tại Dublin, thủ đô Ireland. Để đảm bảo luật di sản và không ảnh hưởng đến kế hoạch và tiến độ công trình, Bộ Giao thông Vận tải Ireland đã có sáng kiến thay vì phải bị động ký hợp đồng giám sát, phát hiện, đánh giá di sản, khai quật giải phóng mặt bằng đã xây dựng một Viện Khảo cổ học với nhiều giáo sư nổi tiếng chuyên trách và trở thành một bộ phận của ngành mình. Họ còn biết kết hợp giữa làm đường với di sản nhằm biến những di tích đó trở thành một bộ phận làm tăng giá trị của các tuyến đường, nhờ ý tưởng biết kết hợp xây dựng với tư duy kinh tế, du lịch.

Thi công đường Văn Cao xuyên qua đường Hoàng Hoa Thám
Luật di sản đang được thực thi thế nào?
Theo Luật Di sản Văn hóa của chúng ta hiện nay thì trên toàn quốc có khoảng 200 người có đủ điều kiện chuyên môn khai quật khảo cổ học. Có nghĩa rằng những người đó đã được tốt nghiệp chuyên ngành khảo cổ học ở bậc Đại học.
Tuy nhiên, trên thực tế, số người có thể được cấp phép chỉ vỏn vẹn chừng 30 người (15 ở Viện Khảo cổ học, 10 ở các trường đại học có chuyên ngành khảo cổ và 5 ở các bảo tàng ). Một cuộc điều tra, thám sát khảo cổ được triển khai nhanh nhất cũng mất một tuần, còn nếu như khai quật vài trăm mét vuông cũng mất hàng tháng, thậm chí hàng năm trời. Trong khi đó, số lượng đất đai cấp phép xây dựng hàng năm lên đến con số hàng chục triệu mét vuông.
Việc cấp phép khai quật của ngành văn hóa nhiều khi còn rất chậm trễ và khó khăn phức tạp, không theo luật. Xin đơn cử trường hợp của tỉnh Hưng Yên. Năm 2002, khi phát hiện một mộ thân cây khoét rỗng xuất lộ do đào mương ở làng Động Xá, huyện Kim Động, Sở VH-TT lúc đó của tỉnh Hưng Yên( nay là Sở VH,TT&DL) đã làm công văn xin phép Cục Di sản cho phép các nhà khảo cổ học kiêm nhiệm và chính nhiệm của Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á là giáo sư Cao Xuân Phổ, tiến sĩ Ngô Thế Phong và tiến sĩ Nguyễn Việt phối hợp với Bảo tàng tỉnh khai quật chữa cháy, kết quả là cho đến tận hôm nay, sau 9 năm, vẫn chưa bao giờ Cục Di sản trả lời công văn đó của Sở. Trong thực tế, Sở phải phá luật, tự tổ chức khai quật chữa cháy không giấy phép. Sau này, tôi được đồng chí Cục phó Cục Di sản giải thích: Bộ không cho vì các anh không “có tóc” để nắm. Luật Di Sản có quy định “tóc tai” gì đâu. Nhưng khi thực hiện, lại thành ra như vậy.
Điều nêu trên phản ánh cơ sở thiếu khả thi đầu tiên của Luật Di sản Văn hóa, đó là không đủ lực lượng chuyên môn để đồng nhịp với tốc độ xây dựng nhanh của đất nước trong thời kỳ phát triển. Những người xây dựng luật đã không giúp Nhà nước chuẩn bị lực lượng, đội ngũ thực thi pháp luật. Di sản và công tác của các nhà khảo cổ vô hình trung trở nên mối đe dọa với mọi công trình xây dựng. Thêm vào đó, khi phát hiện vụ việc, những người làm công tác khảo cổ, văn hóa lại muốn ra oai trừng phạt, gây khó cho kẻ vi phạm, chứ không mang ý thức xây dựng, cùng nhau gỡ mối. Vụ việc khai quật khảo cổ ở Xã Đàn (Đống Đa, Hà Nội) đã gây ách tắc giao thông, nhức nhối hàng năm trời với người dân cũng như chính quyền các cấp thành phố, đến nỗi Thủ tướng phải có ý kiến chỉ đạo. Đó là nguyên nhân góp phần làm cho nhiều nhà thầu xây dựng đều tìm cách lẩn tránh thực thi Luật Di sản Văn hóa.
Hầu như rất hiếm công trình xây dựng được tiến hành theo đúng Luật Di sản Văn hóa - đó là được điều tra thăm dò khảo cổ học trước khi thi công. Giấy phép đủ lệ của ngành văn hóa nếu có chỉ dựa trên Bản đồ Di tích đã xếp hạng, vì thế nếu ngoài phạm vi những di tích đã xếp hạng đó thì ngành văn hóa có quyền cho phép, hoặc có quyền lờ đi. Đó cũng là nguyên do của vụ việc “phá Hoàng thành” làm đường Văn Cao kể trên.
* * *
Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, nước đã đến chân, những bước nhảy vội cuối cùng đua gấp bù với thời gian thong dong trước đó. Nếu biết làm kế hoạch tốt và có ý thức đầy đủ với Đại lễ và với di sản thì đâu có vụ “phá Hoàng thành” làm đường Văn Cao nói trên. Đến tình trạng như thế này thì quyết định của Thành phố ngày 14/5 vừa duy trì tiến độ thi công, vừa dành diện tích khảo cổ, là lối thoát duy nhất đúng đắn. Nhưng cần ghi nhớ rằng, đó là một xử lý đúng đắn trong tình huống đã làm sai, để tìm bài giải tốt nhất cho hoàn cảnh hiện tại. Âu cũng là một bài học tốt để chúng ta thêm một lần nữa tập dượt thành thục thực thi Luật Di sản văn hóa cho ngày mai.
Nguyễn Việt - Đức Nga
