Trong “Hiu hiu gió bấc” của Nguyễn Ngọc Tư, trên cái nền gió bấc dịu dàng và gờn gợn buồn của những ngày cuối năm, tôi ngỡ ngàng bắt gặp một cuộc tình tay ba, không lâm ly, gay cấn, không éo le, không đẫm lệ nhưng buồn thâm trầm như “cơn gió mồ côi, cúi đầu hiu hắt đi giữa cuộc đời”...
Chị Hảo “lỡ thời” yêu anh Hết - anh chàng mồ côi mẹ từ thuở lọt lòng, hiếu thảo nhưng nghèo hèn, chỉ biết làm thuê, làm mướn nuôi cha - anh Hết lại yêu chị Hoài, chị Hoài đi lấy chồng! Cốt chuyện đơn giản như không thể đơn giản hơn. Cuộc sống con người ở miền quê đó cũng vậy, êm đềm như dòng chảy của sông. Nhưng cái gì làm ta rớm lệ khi đọc nó? Phải chăng cái tình của người đàn ông tên Hết – cái tên mộc mạc, tưởng chẳng có nghĩa gì, mà soi vào góc nào cũng thấy đúng; anh sống với mọi người hết dạ, anh hiếu thảo hết mức, anh yêu rồi hy sinh vì người yêu hết lòng và bản thân anh cũng “hết” cả những gì còn lại cho mình - bao giờ anh cũng vì người khác!
Trong cái xóm nhỏ ấy, anh là một tấm gương tốt: hiếu thảo, chịu thương, chịu khó; lại là một gương xấu: “mê gì như thằng Hết mê cờ, mê tới mất vợ…”, tiếng xấu đó anh không ngại nhận bởi vì với anh, món “nợ sữa” là món nợ sâu nặng nhất trên đời, anh không đành để người mẹ từng cho anh bú thép phải nhỏ lệ khóc vì thương con không lấy được một tấm chồng xứng đáng,
anh nghèo quá, nghèo đến “không có cục đất chọi chim”, thì làm sao đảm bảo cuộc sống cho chị Hoài vốn được “tưng tiu”. Thôi thì đành mang tiếng mê cờ, bê tha, bạc tình… để không dám nhìn “con chốt qua sông”, để đứt ruột mà than khi thấy chị Hoài bối rối che một bên má tím bầm “Hoài ơi! Em hạnh phúc tôi mừng, Hoài cứ như vầy… chắc tôi bỏ xứ”.
Còn chị Hảo – người phụ nữ yêu anh mà không dám nói, nhìn thấu tâm can anh, đau cùng nỗi đau của anh, và chị xót xa hiểu rằng 9 chai dầu Nhị Thiên Đường của chị chỉ làm lành những vết đau ngoài da thịt, còn nỗi buốt nhói trong lòng thì vẫn âm ỉ mãi. Và chị chờ, chờ hoài, chờ đến khi nào “người ta thôi buồn khi đưa chốt qua sông” dẫu bao mùa gió bấc lặng lẽ về rồi lặng lẽ qua đi….
Anh Hết hiểu lòng chị Hảo nhưng anh chỉ nói được hai tiếng “cám ơn” bởi vì anh chính là “anh Hết”, tâm hồn anh trong suốt, thẳng băng, không biết dối mình, càng không thể dối người. Anh không như chị Hoài, yêu anh mà ngậm ngùi lấy chồng, dù biết anh không hề mê cờ mà bỏ chị, dù biết anh vì chị mà gánh tiếng bạc nghĩa, vô tình. Anh không như chị Hoài, lòng đau đớn mà ồn ào khoe khoang hạnh phúc, để anh Hết yên tâm là chị như “con chốt qua sông đã đứt lìa phần đời trước”.
Yêu mà phải bảo rằng quên! Nặng tình mà phải giả vô tình! Xem ra nỗi đau của chị Hoài, của anh Hết đều khó thể cân, đong.
Mỗi năm, theo lệ, gió bấc lại về, đồng hành với gió là mùa cưới, không rõ có bao nhiêu người đi trong đám cưới rộn ràng, tưng bừng như hội mà lòng ngăn ngắt niềm đau như anh Hết, chị Hảo, chị Hoài…?
Lê Uyển Văn