Giữa thời điểm thị trường âm nhạc đại chúng đang bão hòa bởi các xu hướng điện tử rập khuôn và những MV chạy theo kỹ xảo thị giác xô bồ, tác phẩm Tính chuyện trăm năm (sáng tác: Nguyễn Quang Long, thể hiện: AnhHI Thanh Cường x NSND Thanh Hoài) mang đến một "làn gió mới" đầy tinh tế.
Bằng việc kết hợp nghệ thuật âm nhạc giao duyên cùng tư duy hình ảnh mượn cảm hứng từ dòng tranh dân gian Đông Hồ, ê-kíp sản xuất đã kiến tạo một không gian nghệ thuật trọn vẹn, khơi dậy mạnh mẽ niềm tự hào về cội nguồn văn hóa bản địa.
MV "Tính chuyện trăm năm"
Dưới góc độ chuyên môn, Tính chuyện trăm năm là một bản Pop âm hưởng dân gian Bắc bộ đạt đến độ hoàn thiện cao về mặt cấu trúc. Nhạc sĩ Nguyễn Quang Long bộc lộ sự cao tay khi thiết lập một vòng hòa âm mộc mạc, nhịp điệu thong thả, tạo ra một không gian tự sự (storytelling) sắc nét.
Điểm sáng lớn nhất của bản phối nằm ở sự tiết chế. Bố cục âm thanh khước từ các dải bass điện tử ồn ào hay những cú drop máy móc mang tính trào lưu. Sự tĩnh lặng có chủ đích này nhường trọn vẹn không gian để suy tôn vẻ đẹp của nhạc cụ mộc, chiều sâu thanh nhạc và ý nghĩa triết lý của ca từ.
Tác giả "Tính chuyện trăm năm" - nhạc sĩ Nguyễn Quang Long
Ngôn từ trong bài hát phảng phất phong vị của ca dao, tục ngữ Việt Nam. Tác giả khéo léo đặt để những hình ảnh ước lệ mang tính biểu tượng văn hóa cao như "miếng trầu quả cau", "bạc mái đầu", "luống cà ruộng rau".
Bức tranh về một tình yêu chân phương, giản dị, hướng tới những giá trị cốt lõi của gia đình truyền thống hiện lên vô cùng tự nhiên, trôi chảy, tuyệt đối vắng bóng sự giáo điều hay khiên cưỡng.
Thể hiện: AnhHI Thanh Cường
Khách mời: NSND Thanh Hoài
Tác giả: Nguyễn Quang Long
Hòa âm: NSƯT Nguyễn Quang Hưng
Vocali: Team Thúy Thúy
Dàn nhạc: NSƯT Nguyễn Quang Hưng (đàn bầu), NSƯT Vân Mai (đàn tranh)
Thu âm & Mastering: MB Studio
Trình bày: Họa sĩ Hoàng Thu Hương
Giám đốc sáng tạo: Hồ Điệp Thanh Thanh
Đạo diễn hình ảnh & AI Artist: Xuân Mạnh AI
Dựng phim và hiệu ứng: Mạnh Mới Mẻ
Yếu tố đắt giá nhất, quyết định linh hồn của tác phẩm chính là màn kết hợp mang tính biểu tượng giữa hai thế hệ nghệ sĩ: Nghệ sĩ Nhân dân Thanh Hoài và AnhHI Thanh Cường.
AnhHI Thanh Cường mở đầu ca khúc bằng chất giọng nam ấm áp, cách hát như đang thủ thỉ tâm tình: "Anh mong đến một ngày mai anh đưa bác mẹ sang nhà chơi/Xin cho chuyện tính trăm năm xin cho hai đứa sẽ thành đôi".
Nghệ sĩ Nhân dân Thanh Hoài và AnhHI Thanh Cường
Sự nhẹ nhàng, tròn vành rõ chữ cùng tư duy xử lý thanh nhạc văn minh của anh đại diện cho tiếng nói chân thành, khát khao gắn kết của lớp người trẻ.
Đối trọng và đồng thời ôm ấp lấy giọng hát ấy là sự xuất hiện của NSND Thanh Hoài. Giọng ca gạo cội đóng vai trò như một nhân chứng thời gian, một người bà, người mẹ đang vỗ về, chúc phúc cho đôi lứa.
Kỹ thuật nảy hạt, độ rung ngân vang và lối luyến láy đặc trưng của nghệ thuật hát truyền thống được NSND Thanh Hoài đưa vào ca khúc vô cùng điêu luyện. Vượt lên trên những lo ngại về sự chênh lệch thế hệ, giọng hát của cô ăn khớp hoàn hảo với nền nhạc Pop.
Sự hòa quyện này khắc họa một cuộc đối thoại tuyệt đẹp. Ở đó, người trẻ bày tỏ sự trân trọng, nâng niu quá khứ. Đáp lại, lớp người đi trước sẵn sàng mở lòng, trao truyền và tiếp nối các giá trị di sản cho tương lai.
Chuyển tải âm nhạc bằng hình ảnh, MV Tính chuyện trăm năm tiếp tục khẳng định một tư duy thẩm mỹ xuyên suốt của ê-kíp sáng tạo. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) kết hợp nghệ thuật hoạt hình (animation) 2D để tôn vinh mỹ thuật dân gian hoàn toàn vắng bóng yếu tố chạy theo trào lưu nhất thời. Trước đó, phương thức này từng được nhạc sĩ Nguyễn Quang Long và ca sĩ AnhHI Thanh Cường triển khai cực kỳ thành công trong MV Thương câu dân ca (ra mắt đầu năm 2026).
Sự tiếp nối có chủ đích này gửi đi một thông điệp mạnh mẽ về tầm nhìn chiến lược dài hạn. Nhóm sản xuất đang từng bước định hình một "chữ ký" nghệ thuật độc bản. Bằng cách khai thác kho tàng tranh dân gian Đông Hồ - từ hình ảnh liền anh liền chị quan họ trong Thương câu dân ca tiến tới hệ thống nhân vật nhà chuột trong Tính chuyện trăm năm - ê-kíp chứng minh AI hay công nghệ hiện đại bản chất vẫn là công cụ. Khi được đặt vào tay những người làm nghề có phông nền văn hóa vững chắc, công cụ ấy lập tức biến thành phương tiện đắc lực để phục dựng và nối dài sức sống của di sản.
Việc mượn tích Đám cưới chuột ăn khớp tuyệt đối với chủ đề "tính chuyện trăm năm", mang ngụ ý về sự sinh sôi nảy nở, sung túc và viên mãn. MV hoạt động như một cuốn "từ điển" sống động về phong tục cưới hỏi truyền thống.
Các nhân vật khoác lên mình hệ thống cổ phục Việt Nam được minh họa tỉ mỉ: áo ngũ thân tay chẽn, áo tấc, khăn vấn. Toàn bộ quy trình cưới hỏi được tái hiện rực rỡ qua các khung hình: từ cảnh chuẩn bị mâm quả trầu cau, cảnh bê tráp, cho đến hình ảnh chú rể mặc áo đỏ cưỡi ngựa hồng rước kiệu hoa qua rặng tre làng. Bố cục khung hình chắt lọc những không gian mang tính biểu tượng của làng quê Bắc Bộ, cùng gam màu hoài cổ (đỏ mận, vàng lúa chín) tạo ra hiệu ứng thị giác mãn nhãn, vui tươi và tràn đầy sức sống.
Nhìn nhận một cách tổng thể, Tính chuyện trăm năm là minh chứng sắc nét cho thái độ làm nghề tử tế, chỉn chu và thấm đẫm lòng tự hào dân tộc.
Tác phẩm đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh "đánh thức di sản", biến những giá trị mỹ thuật dân gian ngỡ như đã quen thuộc trở nên lãng mạn, mới mẻ và dễ dàng chạm đến trái tim khán giả đại chúng.
Việc mượn tích "Đám cưới chuột" ăn khớp tuyệt đối với chủ đề "tính chuyện trăm năm", mang ngụ ý về sự sinh sôi nảy nở, sung túc và viên mãn. Hình ảnh cắt từ MV
Giữa một môi trường giải trí khốc liệt, con đường đưa âm nhạc dân tộc tiếp cận người nghe hoàn toàn có thể được thực hiện bằng sự tĩnh tại, chiều sâu học thuật và tư duy thẩm mỹ văn minh.
Thành công của tác phẩm này khẳng định một chân lý bền vững: âm nhạc Việt Nam hoàn toàn đủ sức chinh phục thị hiếu và định danh bản sắc bằng chính vẻ đẹp nguyên bản cùng sức mạnh nội sinh của văn hóa cội nguồn.
Vậy tại sao nhạc sĩ cùng ê-kíp thực hiện lại chọn tranh Đông Hồ mà không phải dòng tranh nào khác? Dòng tranh này có giá trị gì nổi bật?
Tồn tại xuyên suốt nửa thiên niên kỷ, tranh dân gian Đông Hồ (khu phố Đông Khê, phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) là một trong ba dòng tranh nổi danh nhất Việt Nam và là một di sản mỹ thuật mang giá trị ngoại hạng.
Bức tranh dân gian Đông Hồ in mộc bản "Đám cưới chuột". Ảnh: Hoàng Hiếu - TTXVN
Khí chất của dòng tranh này vừa hội tụ ở những triết lý nhân sinh sâu sắc vừa tỏa sáng qua kỹ thuật chế tác thủ công tinh xảo cùng chất liệu nguyên bản từ mẹ thiên nhiên.
Tác phẩm tranh dân gian Đông Hồ xưa thường được sản xuất vào cuối năm để phục vụ nhu cầu trang trí và thờ cúng của các gia đình Việt dịp tết Nguyên đán. Ảnh: Hoàng Hiếu - TTXVN
Giá trị cốt lõi đầu tiên làm nên sức sống mãnh liệt của tranh Đông Hồ chính là mảng đề tài phong phú, gắn liền với nhịp đập đời sống của người lao động. Tranh được chia thành nhiều dòng: tranh thờ, chúc tụng, lịch sử, sinh hoạt và phong cảnh, thường hiện diện trong các dịp lễ tết, thờ cúng tổ tiên.
Tranh dân gian Đông Hồ được chia thành nhiều loại: Tranh thờ, tranh chúc tụng, tranh lịch sử, tranh truyện, tranh phương ngôn, tranh cảnh vật và tranh phản ánh sinh hoạt. Ảnh: Hoàng Hiếu - TTXVN
Mỗi tác phẩm là một lăng kính phản chiếu thế giới quan sinh động. Đó có thể là cảnh sinh hoạt bình dị, trào lộng trong Chăn trâu thổi sáo, Hứng dừa, Đấu vật, Đánh ghen; hoặc là sự gửi gắm những ước vọng ngàn đời về một cuộc sống ấm no, vinh hiển qua Lễ trí, Nhân nghĩa, Vinh hoa, Phú quý, Lợn đàn, Gà đàn.
Ba thế hệ của gia đình nghệ nhân ưu tú Nguyễn Hữu Quả - một trong rất ít gia đình vẫn còn làm nghề, gắn bó với nghề truyền thống lâu đời tranh dân gian Đông Hồ. Ảnh: Hoàng Hiếu - TTXVN
Vượt lên trên tính tả thực, tranh Đông Hồ chứa đựng những ẩn ý, răn dạy sâu sắc về đạo lý làm người, mang đậm cái nhìn lạc quan, tha thiết và trìu mến đối với cuộc sống.
Về mặt mỹ thuật, tranh Đông Hồ sở hữu cách phối màu và in ấn mang tính độc bản, hiếm có dòng tranh nào trên thế giới sánh được. Sinh thời, thi sĩ Hoàng Cầm từng thốt lên:
Chính "màu dân tộc" và "giấy điệp" là bảo chứng cho giá trị ngoại hạng của dòng tranh này. Những gam màu rực rỡ, ấm áp và bền bỉ với thời gian được các nghệ nhân chiết xuất 100% từ tự nhiên:
Bí quyết pha chế màu sắc linh hoạt theo thời tiết và chất giấy chính là tài sản gia truyền quý giá của các nghệ nhân, giúp tranh luôn giữ được độ tươi sáng, không phai mờ theo năm tháng.
Mỗi bức tranh Đông Hồ là kết tinh của sự nhẫn nại và tài hoa qua 4 công đoạn hoàn toàn thủ công: Sáng tác mẫu - Khắc ván in - Làm màu - In tranh.
Việc sáng tác mẫu đòi hỏi sự am tường về văn hóa, bố cục và màu sắc, thường là thành quả đúc kết của nhiều thế hệ trong làng. Khi mẫu hoàn thiện, công đoạn khắc ván in mang tính quyết định ra đời. Đặc điểm trứ danh của tranh Đông Hồ là in úp ván: mỗi ván gỗ tương ứng với một màu duy nhất.
Sáng tác mẫu tranh và khắc ván là khâu sáng tạo quan trọng nhất của quy trình làm tranh Đông Hồ, quyết định sự sinh tồn của một làng tranh, đòi hỏi năng khiếu bẩm sinh và kỹ năng lao động cao ở các nghệ nhân. Ảnh: Minh Quyết – TTXVN
Quá trình in ấn tuân thủ một nguyên tắc bất di bất dịch: màu đỏ in trước, tiếp nối là xanh, vàng, trắng. Cuối cùng, ván nét màu đen được in đè lên để khóa lại toàn bộ mảng màu, tạo ra những đường viền sắc sảo, hoàn thiện một tuyệt tác mỹ thuật dân dã mà vô cùng chặt chẽ.
Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ ở khu phố Đông Khê, phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, ra đời cách đây khoảng 500 năm, với những đặc trưng riêng về chủ đề, kỹ thuật in, màu sắc và đồ họa bằng kỹ thuật in khắc gỗ.
Chiều 9/12/2025, tại Ấn Độ, Kỳ họp lần thứ 20 của Ủy ban liên chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO thông qua Quyết định số 20.COM 7.a.1 ghi danh di sản Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.
UNESCO: Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hợp quốc.
Ở khu phố Đông Khê, phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ ra đời cách đây khoảng 500 năm.
Sáng tác mẫu, khắc ván in, làm màu, in tranh đều bằng tay.
Từ lá chàm
Từ sỏi son
Từ hoa hòe và quả dành dành
Từ bột sò điệp bị phong hóa
Từ tro lá tre, rơm nếp…
Tranh được in trên giấy dó đã được phủ một lớp hồ điệp.
Các màu được in theo đúng nguyên tắc: màu đỏ in trước, tiếp đến màu xanh, vàng, trắng; ván nét màu đen in cuối cùng để hoàn thiện bức tranh.
Với những giá trị vô giá về nội dung, thẩm mỹ và tính độc bản trong nghệ thuật tạo hình, nghề làm tranh dân gian Đông Hồ đã chính thức được vinh danh là Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2013. Hơn cả một sản phẩm thủ công, tranh Đông Hồ thực sự là một bảo tàng ký ức, nơi lưu giữ trọn vẹn hồn cốt và bản sắc văn hóa Việt Nam.
Không gian tranh dân gian Đông Hồ được trình chiếu tại Kỳ họp lần thứ 20 của Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO ngày ngày 9/12/2025. Ảnh: Ngọc Thúy - P/v TTXVN tại New Delhi
Trong nhịp sống đương đại, những "màu dân tộc" rực rỡ từng bừng sáng trên giấy điệp năm xưa không hề phai nhạt, mà trái lại, vẫn đang được bảo tồn và chuyển động nhịp nhàng theo hơi thở của công nghệ.
Sự ra đời của MV Tính chuyện trăm năm chính là một ví dụ tiêu biểu cho mạch ngầm tiếp nối ấy. Bằng sự giao thoa tinh tế giữa âm nhạc, trí tuệ nhân tạo (AI) và di sản, tác phẩm đã "đánh thức" bức tranh Đám cưới chuột kinh điển, thổi vào đó một sinh mệnh mới đầy lôi cuốn.
Học sinh tham quan phòng tranh dân gian Đông Hồ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ảnh: Đinh Văn Nhiều -TTXVN
Đó là minh chứng tuyệt đẹp cho thấy: khi hồn cốt truyền thống được chắp cánh bởi những nền tảng sáng tạo hiện đại, di sản không chỉ đơn thuần là ký ức để chiêm ngưỡng, mà đã thực sự tái sinh để tiếp tục đồng hành và tỏa sáng trong kỷ nguyên số.
Nguyễn Quang Long là một nhạc sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc, với dấu ấn rõ nét trong nghiên cứu, phục hồi và phát huy âm nhạc dân tộc.
Trong lĩnh vực nghiên cứu, anh là tác giả của nhiều công trình/bài viết chuyên ngành liên quan đến âm nhạc truyền thống Việt Nam gắn với các loại hình như: Quan họ, Hát văn, Ca trù, Hát xoan, Nhã nhạc Cung đình Huế, Âm nhạc và múa Chăm, Âm nhạc Cồng chiêng Tây Nguyên, Nghệ thuật dân gian Bài chòi Bình Định, Đờn ca tài tử Nam bộ…
Quan điểm trong nghiên cứu là đề cao tính ứng dụng, nghiên cứu luôn gắn liền với thực tiễn. Năm 2005 anh cùng nhóm các nhà nghiên cứu tham gia phục hồi nghệ thuật Hát xẩm, đưa Hát xẩm trở lại đời sống tinh thần của người dân Hà Nội cũng như cả nước. Thành quả là Album "Xẩm Hà Nội" với 7 điệu/bài xẩm được hồi sinh và Sân khấu Âm nhạc Hà Nội 36 phố phường ở chợ đêm Hàng Đào - Đồng Xuân gây tiếng vang lớn.
Là đồng sáng lập Nhóm Xẩm Hà Thành với phương châm "Để Hát xẩm sống trong đời sống" anh đã lồng điệu và hồi sinh nhiều bài xẩm nổi tiếng; đồng thời sáng tác nhiều bài xẩm mới theo đúng lối cổ truyền và được đón nhận như: Xẩm Trà đá, Bốn mùa hoa Hà Nội, Tứ vị Hà Thành…
Anh là nghệ sĩ đi tiên phong trong việc kết hợp xẩm với nghệ thuật đương đại khi kết hợp xẩm với hiphop (năm 2011), Xẩm với Jazz (2013), Xẩm với rap thông qua tác phẩm Tiễu trừ cướp biển, Bốn mùa Hoa Hà Nội (2015); Xẩm với rap và EDM năm 2018 với Xẩm Hà Nội (2018), Bốn mùa hoa Hà Nội và Xuân Chúc phúc (2020)…
Các sáng tác mới như: Trúc mọc bên đình, Mong ngày tương phùng, Chị hai sao đứng đầu đình (2020) mang đậm màu sắc dân ca Đồng bằng Bắc bộ.
Năm 2026 anh góp 5 tác phẩm vào album Vol 2 của nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa mang tên "Xẩm trong cõi đời" và kết hợp cùng ca sĩ AnhHI Thanh Cường ra mắt Album Thương câu dân ca (gồm 5 ca khúc chất dân gian Bắc bộ).
Anh cũng là chuyên gia đã giữ mục "Nhạc Việt ngày nay" trên báo Thể thao và Văn hóa (TTXVN) suốt 5 năm nay.
Với tên gọi "Trúc mọc bên đình", ca khúc mới nhất của nhạc sĩ Nguyễn Quang Long do NSƯT Tân Nhàn thể hiện vừa được ra mắt nhân dịp 8/3.
“Muốn nhạc truyền thống dân tộc được tiếp tục phát huy, được phổ biến và có nhiều đột phá, chúng ta không thể chỉ trông chờ vào từng cá nhân. Điều đó cũng tựa như việc nằm ở dưới gốc cây sung há miệng chờ” – nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Quang Long chia sẻ.
Chiều 12/12, tại Nhà hát Chèo Kim Mã (Hà Nội), nghệ sĩ Nguyễn Quang Long đã cho ra mắt album xẩm Vol.1 Trách ông Nguyệt Lão.
Đăng nhập
Họ và tên
Mật khẩu
Xác nhận mật khẩu
Mã xác nhận
Đăng ký
Xin chào, !
Bạn đã đăng nhập với email:
Đăng xuất