Liễn làng Chuồn (An Truyền, Huế) từng là 1 trong 3 dòng tranh dân gian nức tiếng của cố đô bên cạnh tranh làng Sình và tranh Tây Hồ. Sau hơn 1/2 thế kỷ thất truyền, dòng tranh này đã được nhóm dự án "Phường Bách Nghệ" và "Về Làng" do chàng trai trẻ Ngô Quý Đức (sinh năm 1985 tại Hà Nội) khởi xướng, phục dựng thành công.
Những kết quả của dự án Hồi sinh nghề liễn làng Chuồn vừa được giới thiệu tại Hà Nội sau thành công của sự kiện ra mắt dự án tại Huế vào tháng 1/2026.
Từ niềm đam mê tranh dân gian…
Với Ngô Quý Đức, cơ duyên đến với liễn làng Chuồn bắt đầu từ những ký ức rất sớm, rất đời thường về Tết xưa. Đó là những ngày thơ ấu, mỗi độ Xuân về, trong ngôi nhà của ông ngoại, những bộ tranh dân gian Hàng Trống như Tố Nữ, Tứ Bình lại được mang ra treo trang trọng. "Ngay từ khi còn rất nhỏ, khoảng 2 - 3 tuổi, tôi đã bị cuốn hút bởi những bộ tranh dân gian" - anh nhớ lại.

Bộ mộc bản liễn “Ngũ sự” được phục dựng
Ký ức này theo anh lớn lên, cùng với một thực tế ngày càng rõ nét: Khi những ngôi nhà xưa dần bị thay thế bằng không gian hiện đại, tranh dân gian cũng lặng lẽ biến mất khỏi đời sống. Những gì từng là nếp quen ngày Tết dần trở thành hoài niệm.
Sau khi tốt nghiệp ngành công nghệ thông tin năm 2006, chàng trai này bắt đầu một dự án cá nhân về tư liệu văn hóa Hà Nội. Chính quá trình điền dã, tiếp xúc với các làng nghề thủ công quanh Hà Nội đã kéo anh quay lại gần hơn với thế giới tranh dân gian. Từ Đông Hồ, Hàng Trống đến Kim Hoàng, càng đi, anh càng nhận ra: "Đam mê tìm hiểu các dòng tranh dân gian cứ nối dài, chúng như "ăn vào máu" tôi tựa thuở nào".
Theo chia sẻ từ dự án, "liễn" là tên gọi chung cho các tấm giấy hồng điều dùng để viết chữ, câu đối trang trí trong nhà vào dịp Tết Nguyên đán. Liễn làng Chuồn là dòng sản phẩm liễn Tết đặc trưng, ra đời từ chính làng Chuồn - một vùng đất nổi tiếng với truyền thống hiếu học và khoa bảng của xứ Huế.
Năm 2022, anh có chuyến đi khảo sát kéo dài 3 tháng dọc miền Trung, và Huế là điểm dừng cuối cùng. Tại đây, Đức lần lượt tìm hiểu nhiều làng nghề truyền thống như hoa giấy Thanh Tiên, gốm Phước Tích, mây tre đan Bao La… và ghé qua làng Chuồn sau khi nghe thông tin nơi này từng có nghề làm liễn. Nhưng thứ anh nhận được chỉ là ký ức. Nghề làm liễn đã mai một khoảng từ năm 2006, khi cụ Huỳnh Lý (nghệ nhân cuối cùng của làng Chuồn) không còn làm nghề; sau đó, cụ mất, ván in thất lạc, làng gần như không còn dấu tích vật chất nào của nghề xưa.
Bước ngoặt chỉ thực sự đến vào năm 2025, khi anh trở lại Huế để xây dựng một không gian văn hóa và có điều kiện tiếp xúc sâu hơn với giới nghiên cứu, nghệ sĩ và những người trẻ tại đây. Trong những cuộc trò chuyện, anh gặp Đoàn Công Quốc Tuấn - người cũng từng đi làng Chuồn, từng day dứt trước việc một di sản đặc trưng của Huế đã biến mất hoàn toàn. "Khi nghe Tuấn nói rằng rất tiếc mà không biết phải làm sao để phục dựng, tôi thấy đây là việc mình cần làm cho Huế" - Đức kể.

Ngô Quý Đức (trái) cùng nghệ nhân trẻ làng Thanh Liễu tạo tác mộc bản liễn làng Chuồn
Câu hỏi đặt ra: Làm thế nào để phục dựng một nghề đã mai một ngót 20 năm? Lối rẽ được mở ra từ chính kinh nghiệm nhiều năm làm việc với các làng nghề trước đó của Ngô Quý Đức. Trong quá trình nghiên cứu mộc bản và tranh dân gian, anh nhận thấy dấu vết của nghệ nhân làng Thanh Liễu xuất hiện ở khắp nơi, từ các dòng tranh Đông Hồ, Hàng Trống đến mộc bản cung đình, chùa chiền ở Huế. "Làng Thanh Liễu (tỉnh Hải Dương cũ) là nơi gốc gác của nghề in mộc bản Việt Nam. Vậy tại sao không quay về tận gốc để phục dựng?" - anh cho hay.
Quyết định này đã định hình toàn bộ hướng đi của dự án Hồi sinh nghề liễn làng Chuồn. Ngày 14/10/2025, dự án chính thức được khởi động. Chưa đầy 3 tháng sau, đầu tháng 1/2026, những bộ liễn đầu tiên ra mắt tại Huế, đánh dấu thời điểm liễn làng Chuồn, sau nhiều năm vắng bóng, lần đầu tiên trở lại với hình hài cụ thể.

Nhóm dự án chia sẻ hành trình phục dựng mộc bản liễn làng Chuồn tại Hà Nội
Đến kết quả của kết nối tri thức liên vùng
Dấu ấn liễn làng Chuồn
Không giống các làng nghề khác hình thành dựa trên tài nguyên thiên nhiên sẵn có, nghề làm liễn làng Chuồn có một xuất xứ rất đặc biệt: nó bắt nguồn từ chính "vốn liếng" tri thức và văn hóa của làng. Đây là một nghề đòi hỏi người thợ không chỉ khéo tay mà còn phải biết chữ Hán, am hiểu thư pháp và các điển tích, điển cố. Sản phẩm chính là những bộ liễn gồm 1 chữ đại tự (Phúc, Lộc, Thọ) ở giữa và các cặp câu đối 2 bên, được trang trí bằng những họa tiết truyền thống như tứ linh (long, lân, quy, phụng), mai đào,...
Phải khẳng định, kết quả nổi bật của dự án Hồi sinh nghề liễn làng Chuồn nằm ở sự kết nối tri thức liên vùng: Kỹ thuật khắc gỗ tinh xảo từ làng Thanh Liễu và nghệ thuật in màu thủ công từ các làng tranh Đông Hồ, Hàng Trống…
Sản phẩm đầu tiên được phục dựng là bộ liễn Tam sơn gồm 3 tấm, ra mắt tại Huế đầu tháng 1/2026. Trung tâm của bộ liễn là chữ Phúc - biểu trưng cho khát vọng an hòa, đủ đầy - đi cùng 2 câu đối và các họa tiết linh vật mang tinh thần trang nghiêm của không gian thờ tự Huế. Đây được coi là cấu trúc cơ bản nhất của liễn làng Chuồn xưa, phù hợp với những không gian nhà ở, nhà thờ họ có quy mô vừa và nhỏ.
Từ nền tảng này, dự án tiếp tục hoàn thiện bộ liễn Ngũ sự gồm 5 tấm, ra mắt tại Hà Nội mới đây. Điểm bổ sung quan trọng là 2 bức Hạc ngự lưng quy, đặt cân xứng 2 bên bộ liễn, tạo nên bố cục bề thế, trang trọng hơn, thường thấy trong các không gian thờ tự lớn. Theo Ngô Quý Đức, sự mở rộng này không phải là sáng tác tùy hứng, mà xuất phát từ quan sát thực địa: Tại đình làng, nhà thờ họ ở làng Chuồn, hình tượng đôi hạc chầu luôn hiện diện 2 bên, với bộ liễn đặt ở vị trí trung tâm.
Đặc biệt, hình tượng đôi hạc được nhóm dự án chắt lọc từ họa tiết trang trí tại cổ tự Hà Trung (Huế) - một ngôi chùa cổ còn lưu giữ nhiều dấu tích mỹ thuật truyền thống. Từ tư liệu ảnh và những chuyến khảo sát thực địa, hình ảnh đôi hạc được họa lại, chỉnh lý để vừa giữ được tinh thần cổ truyền, vừa đạt độ cân xứng, rõ nét khi đưa lên mộc bản. Nghệ nhân Nguyễn Công Tráng (làng Thanh Liễu) đã dành hơn 2 tuần chỉ để khắc hoàn chỉnh 2 ván mộc bản đôi hạc, một công đoạn đòi hỏi độ chính xác cao về bố cục và nhịp nét.

Ngô Quý Đức trong một lần điền dã tại một gian thờ tư gia ở làng Chuồn
Đáng ghi nhận hơn, quá trình phục dựng của dự án này không chỉ làm lại hình tranh, mà là phục dựng toàn bộ chuỗi kỹ thuật nghề. Khởi điểm của chuỗi này là mộc bản, được ví như phần "xương sống" của tranh dân gian in khắc. Trong bối cảnh toàn bộ ván in gốc của làng Chuồn đã thất lạc, nhóm dự án lựa chọn quay về làng mộc bản Thanh Liễu - cái nôi của nghề khắc in mộc bản Việt Nam - để phục dựng từ gốc.
Từ những tư liệu hiếm hoi còn lại như ảnh chụp cũ, ghi chép rời rạc, các nghệ nhân Thanh Liễu bắt đầu bằng việc vẽ lại bản thảo, đối chiếu từng chi tiết, từng tỷ lệ, sao cho gần nhất với tinh thần nguyên bản. Riêng phần hoàn thiện bản vẽ đã mất hơn 1 tháng, trước khi bước vào công đoạn chọn gỗ. Gỗ được sử dụng là gỗ thị bản lớn - loại gỗ truyền thống cho mộc bản - đủ độ chắc để khắc sâu, nhưng cũng đủ "ăn dao" để giữ được độ mềm của nét.
Theo nghệ nhân trẻ Nguyễn Công Đạt, người trực tiếp tham gia dự án, mỗi công đoạn đều đòi hỏi sự hiểu biết sâu về nghề: Từ cách xử lý thớ gỗ, hướng khắc, đến việc tính toán bản khắc ngược sao cho khi in ra, hình ảnh đạt độ cân đối và sống động. "Hồn cốt của tranh không chỉ nằm ở bức in, mà nằm ở chính những tấm ván" - anh nhấn mạnh.
Sau khắc là đến in, một công đoạn không kém phần công phu. Khác với tranh Đông Hồ in trên giấy điệp, hay Hàng Trống in nét rồi tô màu, liễn làng Chuồn có nhiều điểm tương đồng với tranh Kim Hoàng, khi in trên nền giấy nhuộm đỏ. Nhóm dự án đã phục dựng lại kỹ thuật nhuộm giấy thủ công, sử dụng các chất liệu màu truyền thống như chu sa, phẩm đỏ, hoa hiên… đồng thời trao đổi với các nhà nghiên cứu ở nhiều dòng tranh khác nhau như Đông Hồ, Hàng Trống… để tìm ra phương án gần nhất với kỹ thuật xưa.
Như chia sẻ, khoảnh khắc những bản in đầu tiên được bóc khỏi mộc bản, theo lời các nghệ nhân, là "cảm xúc vỡ òa": Từ bản khắc ngược, khi in ra xuôi, các họa tiết tứ linh, chữ Phúc, hình hạc hiện lên rõ ràng, sống động trên nền giấy đỏ, đánh dấu sự trở lại hữu hình của một dòng tranh từng chỉ còn trong ký ức. Với nhiều nhà nghiên cứu tại Huế, đó không chỉ là một sản phẩm thủ công, mà là khoảnh khắc liễn làng Chuồn "được sống lại" trong đời sống đương đại.
Hướng tới một hệ sinh thái tranh dân gian Việt Nam
Tại sự kiện, Ban điều hành dự án khẳng định liễn làng Chuồn không đứng độc lập mà là một phần trong nỗ lực bảo tồn tổng thể tranh dân gian in mộc bản Việt Nam. Dự án cam kết đồng hành cùng các nghệ nhân dòng tranh Hàng Trống, Đông Hồ, Kim Hoàng, Làng Sình... phục chế các ván in bị mai một, có nguy cơ biến mất hoàn toàn.
Từ đó khơi dậy sự phồn thịnh của các dòng tranh dân gian nhưng trong một dạng thức mới, được công chúng đón nhận như một phần của đời sống đương đại, trong khi vẫn giữ gìn được bản sắc, vốn quý của tinh hoa nghề thủ công và tâm hồn Việt Nam bao đời nay.
Anh Ngô Quý Đức, trưởng nhóm dự án chia sẻ: "Việc hồi sinh liễn làng Chuồn chỉ là bước khởi đầu. Chúng tôi không muốn di sản chỉ nằm trong bảo tàng hay những câu chuyện kể đầy tiếc nuối. Đích đến của dự án là đưa liễn trở lại đời sống đương đại, tạo sinh kế cho người dân. Đặc biệt, sau liễn làng Chuồn, chúng tôi sẽ bắt tay vào nghiên cứu và phục dựng dòng tranh làng Tây Hồ, với khát vọng một ngày không xa, Huế sẽ lại rực rỡ với đầy đủ 3 sắc màu dân gian: Sình – Chuồn – Tây Hồ".
