Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (từ ngày 23 đến ngày 25/3/3026) đã thông qua Chương trình làm việc cho toàn khóa, đó là xác định cụ thể những nội dung mới, cốt lõi, chiến lược, mở đường cần được cụ thể hóa để phát triển và ổn định đất nước, trong đó có lưu ý tới việc nâng cao năng suất quốc gia.
Năng suất quốc gia của chúng ta đang ở đâu so với khu vực và vì sao vấn đề này được đặc biệt nhấn mạnh trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Chương trình làm việc toàn khóa của Ban Chấp hành Trung ương?
Năng suất quốc gia là thước đo hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực (lao động, vốn, tài nguyên) để tạo ra tổng sản phẩm quốc nội (GDP) - nhân tố cốt lõi quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững, năng lực cạnh tranh quốc gia và mức sống của người dân.
Năng suất quốc gia được tính bằng GDP chia cho tổng số giờ làm việc hoặc tổng số lao động và chịu ảnh hưởng của công nghệ, kỹ năng lao động, thể chế chính sách và đổi mới sáng tạo. Việt Nam muốn nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đạt tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số thì không thể không tăng năng suất quốc gia mà cụ thể là năng suất lao động.

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV. Ảnh: Doãn Tấn - TTXVN
Tại Việt Nam, năng suất lao động tính theo giá thực tế chung của toàn nền kinh tế vào năm 2021 là suýt soát 173 triệu đồng/người, đến năm 2025 đã tăng lên 240 triệu đồng/người. Quy đổi ra USD theo sức mua tương đương thì năm 2021 đạt hơn 22.000 USD/người, đứng thứ 7 trong khu vực Đông Nam Á, đến năm 2024 con số này là 25.850 USD/người, vươn lên vị trí thứ 6.
Năng suất lao động của Việt Nam liên tục tăng lên qua các năm - năm 2021 tăng 4,56%, năm 2022 tăng 5,25%, năm 2023 tăng 3,66%, năm 2024 tăng 5,77% và năm 2025 tăng 4,65%. Điều này thể hiện sự cải thiện về trình độ, năng lực của người lao động nước ta dù so với mức chung của khu vực vẫn còn thấp, chỉ bằng khoảng 11% của Singapore, 26% của Malaysia và 40% của Thái Lan.
Phải hiểu kỹ căn nguyên “điểm nghẽn” năng suất lao động ở Việt Nam thì mới tìm ra giải pháp để khai thông.
Bên cạnh xuất phát điểm thấp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm - các ngành công nghiệp, dịch vụ, nhất là những ngành dịch vụ mang tính chất động lực hay huyết mạch của nền kinh tế như tài chính, ngân hàng, du lịch của nước ta chiếm tỷ trọng thấp. Người lao động của nước ta chủ yếu làm việc trong khu vực kinh tế có năng suất lao động không cao. Các ngành nông, lâm, thủy sản chiếm khoảng 37,7% lao động của cả nước nhưng chỉ tạo ra 14,7% GDP.
Phần lớn doanh nghiệp nước ta là doanh nghiệp tư nhân, quy mô vừa và nhỏ, tiềm lực về vốn hạn hẹp, nhiều doanh nghiệp đang sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu, tụt hậu 2-3 thế hệ so với mức trung bình của thế giới.

Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu biểu quyết thông qua Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV. Ảnh: Thống Nhất – TTXVN
Chất lượng nguồn nhân lực trong nước còn hạn chế, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp, cơ cấu đào tạo thiếu hợp lý, thiếu hụt lao động có tay nghề cao, khoảng cách giữa giáo dục nghề nghiệp và nhu cầu của thị trường lao động còn lớn. Một bộ phận lớn người lao động chưa được tập huấn về kỷ luật lao động công nghiệp, người lao động thiếu các kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm, thiếu khả năng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến.
Trình độ tổ chức, quản lý và hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn bất cập. Tăng trưởng kinh tế ở nước ta chủ yếu dựa vào đóng góp của vốn và sức lao động. Năng lực quản lý, quản trị doanh nghiệp còn hạn chế.
Năng suất lao động thấp dẫn đến năng lực cạnh tranh quốc gia cũng thấp trong khi quốc gia có năng suất cao thì việc sử dụng nguồn lực đạt hiệu quả hơn, tạo ra sản phẩm chất lượng tốt hơn với chi phí thấp hơn.
Năng suất lao động cao góp phần vào việc tăng trưởng bền vững – không chỉ tăng vốn hay tăng lao động đơn thuần, việc nâng cao năng suất là chìa khóa cho sự phát triển dài hạn.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính thúc đẩy phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia và nâng cao năng lực tự cường, tự chủ của đất nước.
Trong bối cảnh đó, việc nâng cao năng suất lao động cần được tiếp cận như một chiến lược tổng thể quốc gia: hoàn thiện khung thể chế, chính sách khuyến khích chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, lấy năng suất, chất lượng, hiệu quả làm trung tâm; tạo môi trường thuận lợi cho khởi nghiệp sáng tạo, thúc đẩy nghiên cứu, thương mại hóa kết quả khoa học - công nghệ; cải cách hành chính.
Chính vì thế mà từ “sáu nhiệm vụ trọng tâm” và “ba đột phá chiến lược” tại Đại hội XIV cho đến Chương trình làm việc của Ban Chấp hành trung ương khóa mới đều nhấn mạnh tới các giải pháp cần thiết để tăng năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trong ba đột phá chiến lược có khâu đột phá thứ hai: Nguồn nhân lực – Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, chú trọng giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định và ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng năng suất lao động thông qua chất lượng, trình độ chuyên môn, kỹ năng, thể lực và thái độ làm việc. Nhân lực chất lượng cao giúp tối ưu hóa quy trình, áp dụng công nghệ mới và nâng cao hiệu quả quản lý, từ đó gia tăng giá trị tạo ra.

Các đại biểu dự phiên Bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV. Ảnh: Doãn Tấn - TTXVN
Nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, tay nghề cao giúp thực hiện công việc nhanh hơn, chính xác hơn và sáng tạo hơn. Nhân lực khỏe mạnh giúp duy trì sự liên tục trong sản xuất, giảm thiểu rủi ro, gián tiếp nâng cao năng suất lao động. Tư duy quản lý, thái độ làm việc kỷ luật, sự tận tâm và khả năng thích ứng cao sẽ giúp tối ưu hóa nguồn lực có hạn. Nguồn nhân lực chất lượng cao dễ dàng tiếp cận, vận hành và làm chủ công nghệ hiện đại, công cụ sản xuất mới, từ đó tạo ra bước nhảy vọt về năng suất.
Ở nước ta hiện nay chất lượng nguồn nhân lực vẫn là rào cản lớn nhất kìm hãm năng suất lao động, bởi vậy cần thay đổi tư duy quản lý, đầu tư đào tạo và giữ chân người lao động thông qua tiền lương, phúc lợi phù hợp.
Còn nhiệm vụ thứ hai trong “sáu nhiệm vụ trọng tâm” để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam là đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập; đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Trong đó, chuyển đổi số quốc gia và phát triển kinh tế số là quá trình thay đổi tổng thể, toàn diện phương thức hoạt động kinh tế - xã hội dựa trên công nghệ số, dữ liệu số, nhằm bứt phá năng suất lao động, nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây là con đường tất yếu để chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa trên tài nguyên sang sáng tạo, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.
Phát triển kinh tế số là ứng dụng công nghệ số (AI, IoT, Cloud,...) và dữ liệu số trong tất cả các ngành (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ) để tối ưu hóa quy trình, tăng năng suất và tạo ra các giá trị gia tăng mới.
Chuyển đổi số quốc gia (toàn dân, toàn diện, toàn trình) là tái cấu trúc, thay đổi phương thức hoạt động của Chính phủ (chính phủ số), cộng đồng (xã hội số) và doanh nghiệp.
Nâng cao năng lực cạnh tranh là thúc đẩy đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ chiến lược (Make in Vietnam), xây dựng hạ tầng số đồng bộ và phát triển nguồn nhân lực số chất lượng cao.
Điều này lý giải vì sao nâng cao năng lực cạnh tranh là một trong những vấn đề cốt lõi trong Chương trình làm việc mà Trung ương tập trung bàn tại Hội nghị lần thứ hai và đề ra quyết sách nhằm cụ thể hóa Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
