Văn hoá

Họa sĩ Ngô Minh Cầu: Ông “vua” chép tranh lụa!

29/06/2009 14:58 GMT+7 Google News
(TT&VH) - Như trong bài trước có đề cập, Ngô Minh Cầu rất am hiểu về kỹ thuật tranh lụa và sơn mài, nên từ khoảng 1960 đến 1975, ông đã được các bảo tàng mỹ thuật đặt làm bản sao tác phẩm các danh họa. Ông Cầu nói rằng mình đã làm bản sao tác phẩm của khá nhiều họa sĩ, nhớ không hết tên, nhưng thường xuyên nhất là tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Tường Lân, Lê Văn Đệ, Nguyễn Tiến Chung… và nguyên tắc làm việc của ông là từ 4 tấm trở lên mới làm, dưới 4 tấm không nhận.

Nguyễn Phan Chánh cũng tưởng tranh chép là… tranh của mình!


Một nhà sưu tập, người cho tôi scan lại hình chụp tranh thật và tranh giả (?), xin giấu tên, nói với tôi rằng hiện nay rất ít người được nhìn thấy tranh “xịn” của Nguyễn Phan Chánh, mà đa phần là tranh lụa giả.


Ngô Minh Cầu qua nét vẽ của Trọng Kiệm, 1978

Ngô Minh Cầu rất giỏi hình họa. Từ năm 1956 đến 1960 ông là giảng viên hình họa tại Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam, từ 1966 đến 1973 dạy tại ĐH Mỹ thuật Công nghiệp. Ông Cầu kể rằng: “Khoảng thập niên 1970 là đỉnh điểm về “cơn khát” tranh lụa Nguyễn Phan Chánh, rồi bên CB 14 (Ban Thống nhất Trung ương) cũng cần những bản sao để tặng trong các chuyến công tác, rồi quà tặng ngoại giao. Bây giờ nghĩ lại, tôi không biết mình đã sao chép bao nhiêu bức, nhưng có thể ước đoán là lên đến vài trăm lượt chép, và với hầu như các tác phẩm lụa tiêu biểu. Ngoài lụa, tôi còn sao chép tranh giấy dó. Tranh lụa Nguyễn Tường Lân, Lê Văn Đệ, Nguyễn Tiến Chung... tôi cũng làm nhiều. Đặc biệt là Nguyễn Tường Lân (trong bộ tứ: nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn - PV). Sau khi ông Lân mất, tranh của ông rách nát khá nhiều, tôi làm lại tác phẩm mới từ các mảnh rách nát đó”.

Ông Cầu nói có nhiều lần Nguyễn Tiến Chung nhờ ông sao chép lại tranh của chính mình, vì bảo tàng thuê chép, nhưng ông Chung ngại không làm (ví dụ bức Mùa gặt). Cũng có vài lần, chính danh họa Nguyễn Phan Chánh nhìn vào tranh do ông Cầu chép, cứ cho rằng tranh của mình vẽ. Chứng cứ là sau khi sao chép bức Lên đồng, hội đồng kiểm định của bảo tàng gồm danh họa Trần Văn Cẩn và Mai Văn Hiến không dám xác quyết về chất lượng, nên bèn đem đến cho Nguyễn Phan Chánh xem lại, và khi ông ấy nhìn tranh giả cứ tưởng bức thật đã quay về. Ông Cầu nói rằng mình đã chép lại bức Lên đồng từ... một bưu thiếp!

Bi hài chuyện tranh chép được cho là… tranh thật!

Trước đây, vấn đề bản quyền tranh chưa được đặt nặng như bây giờ với những quy định nghiêm ngặt về việc sao chép, cho nên chuyện chép tranh... như thật cũng là chuyện hết sức bình thường. Trở lại chuyện sao chép tranh, ông Cầu tiết lộ rằng, để làm được, ngoài vững hình họa, còn phải am hiểu và biết sáng tạo về chất liệu; hiểu cá tính họa sĩ. Ví dụ tranh của Nguyễn Tường Lân thường vẽ ngoài trời, gặp mưa gió, nắng bụi, sau lại bị làm rách, khi sao chép lại, mình phải biết “ứng biến” với tất cả các tình huống này. Có nhà sưu tập đặt nghi vấn, số tranh “lành lặn” của Nguyễn Tường Lân (1906- 1946) mà chúng ta nhìn thấy sau này là do ông Cầu “sáng tạo lại”. Ông Cầu không xác quyết chuyện này, nhưng nói rằng đã gặp rất nhiều tranh Lê Văn Đệ, Nguyễn Tường Lân do ông chép nhưng được cộng đồng Việt kiều “cho là” tranh thật. Ông cũng nói rằng, nhiều hình in trong các vựng tập cá nhân và nhà đấu giá, không hiểu sao lại chụp từ tranh ông chép, mà không chụp từ tranh thật (?).

Hai bức tranh lụa này ở trong vựng tập đấu giá quốc tế, được Nguyễn Phan Chánh vẽ trong giai đoạn 1930-1932, hình bên trái (Bếp nhỏ, 63x49,5cm) trong giới cho là tranh giả; hình bên phải (Cô gái chải tóc, 65x50cm) là tranh thật. Cùng một cách tư duy bố cục, nhưng bức bên phải mềm mại, uyển chuyển, màu nhuộm công phu và nhiều lớp hơn.

Ông Cầu nói nguyên tắc làm việc là phải theo “bộ tứ”, nghĩa là khi bảo tàng hay ai đó đặt hàng, thì số lượng tối thiểu phải từ 4 bức trở lên. “Chép 1 ra 1 mất công lắm, lại chẳng được bao nhiêu tiền, lúc này ở Hà Nội người ta hay trả bằng vàng. Tôi thường chép 1 bức ra 4, hoặc ra 8, ra 16. Sau khi chuẩn bị xong mọi thứ, tôi sao chép theo kiểu dây chuyền, rất nhanh và cũng dễ đạt, vì 1 bức thì không thể quen tay bằng nhiều bức. Có những bức làm nhiều lần đến mức thuộc lòng, nhìn sơ qua là làm được ngay” - Ngô Minh Cầu cho biết.

Viết đến đây, tôi chợt nhớ nhận định mới đây của nhà nghiên cứu mỹ thuật Phan Cẩm Thượng đã viết trên VietnamNet: “Có thể nói, bây giờ khó mà trông thấy một bức tranh tự tay Nguyễn Phan Chánh vẽ. Tương lai là Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tiến Chung... Ngay cả những họa sĩ đang sống và còn trẻ như Đỗ Quang Em, Bùi Hữu Hùng, Lê Thiết Cương, Đào Hải Phong... tranh giả đầy rẫy mọi nơi”.

Trong các thập niên từ 1950 đến 1970, tranh lụa và ký họa màu nước của Ngô Minh Cầu đã có những đóng góp nhất định, tiêu biểu là mảng đề tài về các dân tộc miền Tây Bắc. Sau này, khi nghỉ hưu (1982) và vào TP.HCM sinh sống, do có xưởng rộng rãi, ông mới chuyển sang vẽ sơn mài. Sau 1975, có thể nói ông là người đầu tiên làm triển lãm cá nhân về sơn mài tại Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM vào năm 1992, với 75 tác phẩm, kéo dài liên tục trong khoảng 4 tháng. Và từ đây, khi nghĩ tới Ngô Minh Cầu là người ta hay nghĩ tới tranh sơn mài, cũng bởi cái triển lãm đình đám này.

Văn Bảy

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm