(Bài dự thi) - Học năm thứ nhất, sau Tết nhà trường chưa xếp được lịch học, tôi khoác ba lô ra bến xe Nước Ngầm về…Hà Tĩnh, vùng quê chưa bao giờ đặt chân đến.
Xe chạy lúc 5h chiều, lắc lư đến 9h tối thì dừng lại ở Thanh Hóa, tôi không dám ra khỏi xe, chỉ mua một ổ bánh mỳ trệu trạo nhai. Anh lơ xe hỏi: “Em về mô trong Hà Tĩnh?” “Em về thị xã”. Có lẽ trông tôi lúc đó ngây ngô quá, lại nói giọng bắc, anh hỏi thêm: “Em thăm ai trong nớ?” Nghe tôi nói về chơi với một chị làm ở báo Hà Tĩnh, mà chưa biết đi đường nào từ bến xe đến đó, chỉ thấy chị dặn là hết khoảng…2.000Đ xe ôm (thời giá năm 1997). Anh không nói gì nữa. Xe chạy, tôi ngủ gà ngủ gật không biết mình đang đi qua những vùng nào.
Khoảng 2h sáng, tôi giật mình nghe tiếng la to: “Đến bến rồi. Các bác dậy xem lại đồ đạc chuẩn bị xuống xe.” Thị xã xa lạ lác đác ánh đèn cao áp vàng quạch. Anh lơ xe bảo tôi: “Em cứ ngồi đó, lát bọn anh chở đến báo Hà Tĩnh. Con gấy (con gái) nỏ biết đàng mần răng mà đi, đêm hôm như rứa…”
Nghe tiếng gõ cửa lúc khuya khoắt, chị Hoài Thanh mắt nhắm mắt mở lạch xạch mở khóa, thấy tôi, chị la như…cháy nhà: “Ui chao! Răng mi nỏ báo trước chị ra đón. Lạ nác (nước) lạ cái người ta đưa đi mất mần răng? Nhoọc (mệt) lắm hỉ? Để chị nấu cái chi mi ăn hè…” Ăn xong tô mỳ cay xé lưỡi, tôi lăn ra ngủ đến tận trưa. Chị Thanh dắt ra chợ: “Mi thích cái chi thì chỉ, chợ ni đồ biển sẵn lắm”. Dường như cả khu chợ đều là người quen thân, ai cũng gọi nhau bằng dì xưng con ngọt lịm. Đặc sản ở đây là món bánh tráng kẹp bánh đa chấm nước mắm cốt bỏ thật nhiều ớt và tỏi. Tôi ăn, nước mắt chảy ròng ròng, miệng không ngớt xuýt xoa vì cay mà vẫn hết…nửa bát nước chấm khiến chị Thanh cười như nắc nẻ: “Ui chao! Hắn ăn mặn còn hơn người quê choa…”. Chuyện đó sau này trở thành một giai thoại dễ thương của tôi mà mọi người vẫn nhắc.
Hôm sau là thứ 7,buổi chiều hai chị em bắt xe về thị trấn Kỳ Anh.. Chị làm ở thị xã cách nhà 50km, cuối tuần về thăm cha mẹ. Tối mịt mới về đến nhà. Con ngõ quanh co tối om mà chị vẫn bước phăng phăng như thuộc lòng từng hòn đá dưới chân mình. Ngôi nhà nhỏ, cũ kỹ, ánh đèn nê-ông hắt ra khoảng sân không có gạch lát. Bóng một người đàn ông gầy gầy ló ra. “Cha”, giọng chị Thanh trong veo cất lên, nửa gọi nửa chào. (Tiếng gọi cha đó ấn tượng trong tôi đến mức, tôi luôn tâm niệm rằng sau này nhất định mình sẽ dạy con gọi bố nó là “Cha”). Cha chị là thầy giáo dạy địa lý của trường cấp II thị trấn, nổi tiếng nghiêm khắc nhưng cũng rất nhân từ. Mẹ chị làm hộ lý ở bệnh viện, buổi tối thường phải đi trực. Hai đứa em rất ngoan, biết tự bảo nhau học hành. Cha chị nhắc: “Hai đứa bay đi cơm ăn kẻo đói. Muộn chi mà muộn dữ”. Âm sắc nằng nặng của người vùng này mới đầu khiến tôi hơi…hoảng, vì tưởng giận mình, họ mới…nặng lời như vậy. Đợi chúng tôi ăn xong, ông mới hỏi chuyện học hành, gia đình, công việc. Ông căn dặn tôi nhiều điều, đúng như một người cha ân cần chỉ bảo cho con. Giọng miền trung nghe quen sẽ thấy rất tình cảm, mỗi âm tiết đều như rung lên từ lồng ngực nên ấm áp chân thành vô cùng.
Chiều chủ nhật, chị Thanh hỏi: “Mi ở nhà hay ra thị xã với chị?”. Con Dung, em gái chị, xúi: “Thôi, ở nhà em dẫn đi rú (rừng) nhởi (chơi), ra đó chi cho buồn”. Tôi háo hức gật đầu.
Rừng ngay phía sau trường cấp III của Dung. “Ngày xưa cha mẹ em, rồi đến chị Thanh đều học trường ni. Giờ đến em”, Dung tự hào khoe. A, thì ra đây chính là khu rừng mà chị Thanh vẫn hay kể. Một người thầy của chị đột ngột qua đời vào đúng ngày chị thi đại học, không kịp về đưa thầy, chị day dứt mãi. Lần nào về thăm trường, chị cũng ra khu rừng này ngồi rất lâu cạnh phiến đá trắng rộng như một gian nhà, nơi thầy trò thường dẫn nhau ra đây đàn hát, đọc thơ mỗi buổi sinh hoạt ngoại khóa. Theo chân Dung, tôi đi sâu vào rừng, bất ngờ gặp một con thác tuyệt đẹp. Thác không cao, nước đổ xuống tạo thành dòng suối hiền hòa trong vắt đổ ra sông Trí. Ven bờ suối có nhiều loài hoa mang những cái tên là lạ, hoa Chạc chìu cánh trắng muốt tỏa mùi hương vừa níu kéo vừa xa xôi, hoa Vông vang cánh mỏng vàng tươi như thắp nắng trên đầu ngọn cây, hoa Dủ dẻ khi “chín” có màu vàng sẫm như mật, thơm ngọt thấm vào tận nỗi nhớ của người đi xa…
Trước ngày tôi trở lại thị xã Hà Tĩnh để ra Hà Nội, mẹ chị Thanh dành gần hết đêm làm món bò kho khô cho tôi mang đi. Bà chờ từng khúc thịt bò thật nguội rồi mới cho vào hộp, cẩn thận xếp vào góc ba lô của tôi. Về đến nhà trọ, tôi giở hộp thịt, thái mỏng từng miếng, nhấm nháp. Vị cay ngọt mặn hòa quyện với nhau, ăn mãi không biết chán. Hồi đó cuộc sống sinh viên thiếu thốn đủ bề, có những ngày trong túi không còn một xu để đi chợ, tôi vẫn ung dung vì đã có món thịt bò kho dự trữ. Vậy mà lúc nhìn những miếng thịt được tấm ướp nước mắm, ớt, xả, tỏi, tiêu chuyển sang màu nâu xịt, tôi đã ngần ngại vì nó không giống với những gói thịt bò khô màu mè bắt mắt vẫn treo đầy ở các quán bia hơi.
Sau này, vì điều kiện công việc, tôi thưa dần những liên lạc với chị Thanh, cũng không thu xếp được cho mình một chuyến đi để trở lại mảnh đất nhỏ hẹp của miền trung nắng gió khắc nghiệt mà tình người chan chứa mênh mông ấy. Tôi luôn nhớ về họ bằng niềm biết ơn thành thật tận đáy lòng, khi mình đã được gặp và đón nhận những tấm lòng hồn hậu, để biết tin yêu vào cuộc sống này.
Xe chạy lúc 5h chiều, lắc lư đến 9h tối thì dừng lại ở Thanh Hóa, tôi không dám ra khỏi xe, chỉ mua một ổ bánh mỳ trệu trạo nhai. Anh lơ xe hỏi: “Em về mô trong Hà Tĩnh?” “Em về thị xã”. Có lẽ trông tôi lúc đó ngây ngô quá, lại nói giọng bắc, anh hỏi thêm: “Em thăm ai trong nớ?” Nghe tôi nói về chơi với một chị làm ở báo Hà Tĩnh, mà chưa biết đi đường nào từ bến xe đến đó, chỉ thấy chị dặn là hết khoảng…2.000Đ xe ôm (thời giá năm 1997). Anh không nói gì nữa. Xe chạy, tôi ngủ gà ngủ gật không biết mình đang đi qua những vùng nào.
Khoảng 2h sáng, tôi giật mình nghe tiếng la to: “Đến bến rồi. Các bác dậy xem lại đồ đạc chuẩn bị xuống xe.” Thị xã xa lạ lác đác ánh đèn cao áp vàng quạch. Anh lơ xe bảo tôi: “Em cứ ngồi đó, lát bọn anh chở đến báo Hà Tĩnh. Con gấy (con gái) nỏ biết đàng mần răng mà đi, đêm hôm như rứa…”
Nghe tiếng gõ cửa lúc khuya khoắt, chị Hoài Thanh mắt nhắm mắt mở lạch xạch mở khóa, thấy tôi, chị la như…cháy nhà: “Ui chao! Răng mi nỏ báo trước chị ra đón. Lạ nác (nước) lạ cái người ta đưa đi mất mần răng? Nhoọc (mệt) lắm hỉ? Để chị nấu cái chi mi ăn hè…” Ăn xong tô mỳ cay xé lưỡi, tôi lăn ra ngủ đến tận trưa. Chị Thanh dắt ra chợ: “Mi thích cái chi thì chỉ, chợ ni đồ biển sẵn lắm”. Dường như cả khu chợ đều là người quen thân, ai cũng gọi nhau bằng dì xưng con ngọt lịm. Đặc sản ở đây là món bánh tráng kẹp bánh đa chấm nước mắm cốt bỏ thật nhiều ớt và tỏi. Tôi ăn, nước mắt chảy ròng ròng, miệng không ngớt xuýt xoa vì cay mà vẫn hết…nửa bát nước chấm khiến chị Thanh cười như nắc nẻ: “Ui chao! Hắn ăn mặn còn hơn người quê choa…”. Chuyện đó sau này trở thành một giai thoại dễ thương của tôi mà mọi người vẫn nhắc.
Hôm sau là thứ 7,buổi chiều hai chị em bắt xe về thị trấn Kỳ Anh.. Chị làm ở thị xã cách nhà 50km, cuối tuần về thăm cha mẹ. Tối mịt mới về đến nhà. Con ngõ quanh co tối om mà chị vẫn bước phăng phăng như thuộc lòng từng hòn đá dưới chân mình. Ngôi nhà nhỏ, cũ kỹ, ánh đèn nê-ông hắt ra khoảng sân không có gạch lát. Bóng một người đàn ông gầy gầy ló ra. “Cha”, giọng chị Thanh trong veo cất lên, nửa gọi nửa chào. (Tiếng gọi cha đó ấn tượng trong tôi đến mức, tôi luôn tâm niệm rằng sau này nhất định mình sẽ dạy con gọi bố nó là “Cha”). Cha chị là thầy giáo dạy địa lý của trường cấp II thị trấn, nổi tiếng nghiêm khắc nhưng cũng rất nhân từ. Mẹ chị làm hộ lý ở bệnh viện, buổi tối thường phải đi trực. Hai đứa em rất ngoan, biết tự bảo nhau học hành. Cha chị nhắc: “Hai đứa bay đi cơm ăn kẻo đói. Muộn chi mà muộn dữ”. Âm sắc nằng nặng của người vùng này mới đầu khiến tôi hơi…hoảng, vì tưởng giận mình, họ mới…nặng lời như vậy. Đợi chúng tôi ăn xong, ông mới hỏi chuyện học hành, gia đình, công việc. Ông căn dặn tôi nhiều điều, đúng như một người cha ân cần chỉ bảo cho con. Giọng miền trung nghe quen sẽ thấy rất tình cảm, mỗi âm tiết đều như rung lên từ lồng ngực nên ấm áp chân thành vô cùng.
Chiều chủ nhật, chị Thanh hỏi: “Mi ở nhà hay ra thị xã với chị?”. Con Dung, em gái chị, xúi: “Thôi, ở nhà em dẫn đi rú (rừng) nhởi (chơi), ra đó chi cho buồn”. Tôi háo hức gật đầu.
Rừng ngay phía sau trường cấp III của Dung. “Ngày xưa cha mẹ em, rồi đến chị Thanh đều học trường ni. Giờ đến em”, Dung tự hào khoe. A, thì ra đây chính là khu rừng mà chị Thanh vẫn hay kể. Một người thầy của chị đột ngột qua đời vào đúng ngày chị thi đại học, không kịp về đưa thầy, chị day dứt mãi. Lần nào về thăm trường, chị cũng ra khu rừng này ngồi rất lâu cạnh phiến đá trắng rộng như một gian nhà, nơi thầy trò thường dẫn nhau ra đây đàn hát, đọc thơ mỗi buổi sinh hoạt ngoại khóa. Theo chân Dung, tôi đi sâu vào rừng, bất ngờ gặp một con thác tuyệt đẹp. Thác không cao, nước đổ xuống tạo thành dòng suối hiền hòa trong vắt đổ ra sông Trí. Ven bờ suối có nhiều loài hoa mang những cái tên là lạ, hoa Chạc chìu cánh trắng muốt tỏa mùi hương vừa níu kéo vừa xa xôi, hoa Vông vang cánh mỏng vàng tươi như thắp nắng trên đầu ngọn cây, hoa Dủ dẻ khi “chín” có màu vàng sẫm như mật, thơm ngọt thấm vào tận nỗi nhớ của người đi xa…
Trước ngày tôi trở lại thị xã Hà Tĩnh để ra Hà Nội, mẹ chị Thanh dành gần hết đêm làm món bò kho khô cho tôi mang đi. Bà chờ từng khúc thịt bò thật nguội rồi mới cho vào hộp, cẩn thận xếp vào góc ba lô của tôi. Về đến nhà trọ, tôi giở hộp thịt, thái mỏng từng miếng, nhấm nháp. Vị cay ngọt mặn hòa quyện với nhau, ăn mãi không biết chán. Hồi đó cuộc sống sinh viên thiếu thốn đủ bề, có những ngày trong túi không còn một xu để đi chợ, tôi vẫn ung dung vì đã có món thịt bò kho dự trữ. Vậy mà lúc nhìn những miếng thịt được tấm ướp nước mắm, ớt, xả, tỏi, tiêu chuyển sang màu nâu xịt, tôi đã ngần ngại vì nó không giống với những gói thịt bò khô màu mè bắt mắt vẫn treo đầy ở các quán bia hơi.
Sau này, vì điều kiện công việc, tôi thưa dần những liên lạc với chị Thanh, cũng không thu xếp được cho mình một chuyến đi để trở lại mảnh đất nhỏ hẹp của miền trung nắng gió khắc nghiệt mà tình người chan chứa mênh mông ấy. Tôi luôn nhớ về họ bằng niềm biết ơn thành thật tận đáy lòng, khi mình đã được gặp và đón nhận những tấm lòng hồn hậu, để biết tin yêu vào cuộc sống này.
Phạm Thị Phong Lan