(TT&VH Online) - Ở Thổ Nhĩ Kỳ, mọi người đều gọi Fatih Terim là “Imparator”, hay “Hoàng đế”. Ông được xưng tụng như thế không chỉ bởi những danh hiệu với Galatasaray: Bốn chức vô địch Thổ Nhĩ Kỳ, hai Cúp quốc gia và một chiếc Cúp UEFA, mà trước hết, bởi Terim chính là người đặt những nền tảng đầu tiên giúp đội bóng châu Á trở thành một thế lực được thừa nhận ở đấu trường khắc nghiệt châu Âu.
Dưới sự rèn luyện và ảnh hưởng của Terim, bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ đã sản sinh ra những tài năng lớn nhất, từ Hakan Sukur đến Emre Belezoglu, từ Kerimoglu Tugay Kerimoglu đến Sanli Tuncay. Giai đoạn Terim dẫn dắt đội tuyển U-21, rồi đội tuyển quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ cũng như Galatasaray chính là giai đoạn hòa nhập thành công của bóng đá nước này với sân chơi lớn ở bên kia Địa Trung Hải.
Terim trải qua một sự nghiệp cầu thủ thành công ở vị trí trung vệ cho hai đội bóng Thổ Nhĩ Kỳ, Adana Demirspor và Galatasaray, nhưng không để lại dấu ấn gì đặc biệt, bởi lẽ giai đoạn những năm 1970 đó, Thổ Nhĩ Kỳ chỉ là một cái tên xa lạ ở “chiếu dưới” đối với làng bóng đá châu Âu, phần nào giống với tình cảnh của Israel ngày nay. Thậm chí, mới chỉ hơn 20 năm trước thôi, đội bóng đến từ đế chế Ottoman còn hai lần để thua Anh với tỷ số 0-8. Nhưng Terim đã đến và đã thay đổi.
Thế hệ những cầu thủ Thổ Nhĩ Kỳ đầu tiên bắt đầu được châu Âu biết tới được gầy dựng trọn vẹn trong tay Terim. Năm 1990, ông tiếp quản đội U-21 quốc gia và chứng kiến sự trưởng thành của những nhân tố sau này đã góp phần quan trọng đưa đội tuyển nước này tới EURO 1996, giải đấu lớn đầu tiên của họ trong suốt 40 năm, kể từ World Cup 1954. Tại Anh, những Alpay Ozalan, Muzzy Izzet, Arif Erdem và Ilhan Mansiz không thể hiện được nhiều và bị loại ngay từ vòng bảng sau ba trận thua, nhưng đó vẫn là khởi đầu đầy hứa hẹn cho một nền bóng đá đang trên đường khẳng định mình.

Bằng nguyên tắc đó, ông đã đưa Galatasaray lên tới đỉnh cao ở châu Âu vào mùa giải 1999-2000. Có thể nói không ngoa rằng lịch sử hiện đại của bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ chia làm hai giai đoạn, trước và sau chiếc Cúp UEFA mà đội bóng giàu thành tích nhất đất nước giành được trước gã khổng lồ Anh Arsenal ở sân Parken đó. Trên con đường chinh phục thần kỳ của mình, Terim và các học trò đã lần lượt ghi vào danh sách nạn nhân những cái tên khét tiếng của châu Âu thời bấy giờ: Bologna, Borussia Dortmund, Mallorca và Leeds United.
Chiến thắng đầu tiên của một câu lạc bộ Thổ Nhĩ Kỳ ở một Cúp châu Âu đó đã mở ra con đường mới cho bóng đá nước này, khi Terim được những đội bóng hàng đầu ở Serie A như Fiorentina và AC Milan, chèo kéo, còn các học trò xuất sắc của ông, Hakan Sukur, Okan Buruk hay Umit Davala thì có cơ hội chơi cho những câu lạc bộ lớn nhất châu Âu. Kinh nghiệm mà họ mang về cho bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ sau những năm tháng chinh chiến ở các giải đấu hàng đầu là vô giá và trở thành nền tảng vững chắc cho thành công vang dội của bóng đá nước này hai năm sau đó: Vị trí thứ ba tại World Cup 2002.
Mặc dù không trực tiếp dẫn dắt đội tuyển Thổ Nhĩ Kỳ trong kỳ tích tại Nhật Bản và Hàn Quốc đó, nhưng đội bóng mà Senol Gunes kế thừa chính là dựa trên bộ khung của Galatasaray hai năm trước mà Terim đã dày công gây dựng với những cầu thủ sau đó còn đặt dấu ấn của mình trên khắp châu Âu như Emre, Hasan Sas hay Hakan Unsal. Terim đóng góp một phần rất thầm lặng trong chiến công thần kỳ ấy của bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ.

Trước khi bước vào giải đấu, Thổ Nhĩ Kỳ không được đánh giá cao trong bảng đấu của mình, nơi có mặt ứng cử viên Bồ Đào Nha và Cộng hòa Czech. Và quả thật đội bóng của Terim không mạnh mẽ và đáng sợ như tám năm trước, nhưng tinh thần kiên cường thì vẫn còn nguyên vẹn. Thổ Nhĩ Kỳ nhẫn nại nhưng không cam chịu trước địch thủ mạnh hơn: Bồ Đào Nha, làm hết sức mình để có điểm trước đội yếu hơn: Thụy Sĩ và chiến đấu với tất cả lòng tin để lật ngược tình thế trước đối thủ trực tiếp Cộng hòa Czech, một trận đấu để đời của Terim và của cả bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ nữa.
|
Fatih Terim Ngày sinh: 4/9/1953. Nơi sinh: Adana, Thổ Nhĩ Kỳ. Những đội bóng đã dẫn dắt: MKE Ankaragucu (1987-1989), Goztepe (1989-1990), đội tuyển U21 Thổ Nhĩ Kỳ (1990-1993), đội tuyển Thổ Nhĩ Kỳ (1993-1996), Galatasaray (1996-2000), Fiorentina (2000-2001), AC Milan (2001-2002), Galatasaray (2002-2004), đội tuyển Thổ Nhĩ Kỳ (từ 2004). Thành tích: 1 Cúp UEFA (2000), 4 lần vô địch Thổ Nhĩ Kỳ (1997, 1998, 1999, 2000), 2 Cúp quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ (1999, 2000). |