Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đang được các địa phương triển khai với nhiều cách tiếp cận cụ thể.
Từ xây dựng mô hình phát triển mới, hoàn thiện cơ chế chính sách đến tổ chức thực hiện các nhiệm vụ gắn với tiến độ, chỉ tiêu, bước đầu cho thấy sự chuyển dịch theo hướng chú trọng hiệu quả thực chất, phù hợp với điều kiện từng địa phương.
Xây dựng không gian phát triển mới
Trong quá trình triển khai Nghị quyết 57, Quảng Ninh là một trong những địa phương sớm cụ thể hóa định hướng bằng việc xây dựng các mô hình phát triển mang tính tổng thể, gắn với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tỉnh đang nghiên cứu xây dựng Đề án Khu kinh tế số và tri thức tự do như một không gian phát triển mới. Theo đề xuất, khu kinh tế này có quy mô gần 26.400 ha, trải rộng trên địa bàn 10 xã, phường và được cấu trúc thành ba phân khu chức năng.

Áp dụng phần mềm lấy số thứ tự tại Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp. Ảnh: Văn Đức - TTXVN
Phân khu 1 có diện tích 5.770 ha tập trung vào nghiên cứu, phát triển trí tuệ nhân tạo (AI), đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao với cụm đại học quốc tế và đô thị thông minh. Phân khu 2 có diện tích 19.380 ha phát triển các chức năng quản trị thông minh theo mô hình "Digital Twin", đồng thời hình thành trung tâm hành chính kiểm mẫu, hệ thống trung tâm dữ liệu dự phòng, công nghiệp và dịch vụ logistics. Phân khu 3 có diện tích 1.230 ha tập trung vào sản xuất công nghệ cao như bán dẫn và linh kiện điện tử.
Việc xây dựng mô hình này được định hướng gắn với các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thu hút nguồn lực, đặc biệt là các tập đoàn công nghệ và chuyên gia quốc tế. Đây cũng là một trong những giải pháp nhằm hình thành hệ sinh thái phát triển dựa trên công nghệ và tri thức. Song song với việc xây dựng không gian phát triển, Quảng Ninh triển khai Chiến lược chuyển đổi số đến năm 2030 với ba trụ cột chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Cùng với đó là các trụ cột nền tảng gồm hạ tầng số, dữ liệu số, nền tảng số, an toàn thông tin – an ninh mạng, nguồn nhân lực số và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Theo Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh, việc triển khai các đề án, chương trình này được cụ thể hóa bằng 68 nhiệm vụ, gắn với trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị. Trong quý I/2026, tỉnh đã quyết nghị dành 1.089 tỷ đồng cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, thể hiện sự ưu tiên về nguồn lực cho lĩnh vực này. Bên cạnh đó, địa phương tập trung triển khai các dự án hạ tầng số như Trung tâm An ninh mạng, hạ tầng mạng truyền số liệu; phát triển hệ sinh thái nghiên cứu tại Trường Đại học Hạ Long và Khu Công nghệ số tập trung Tuần Châu; đồng thời hoàn thành trang bị thiết bị đầu cuối cho các địa phương nhằm bảo đảm hạ tầng đồng bộ, phục vụ chuyển đổi số.
Trong tổ chức thực hiện, Quảng Ninh xác định tập trung vào một số lĩnh vực trọng tâm như quản lý đô thị, kinh tế biển và logistics, qua đó gắn phát triển khoa học công nghệ và chuyển đổi số với các ngành kinh tế chủ lực của địa phương. Việc lựa chọn các lĩnh vực trọng tâm này nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, đồng thời tạo cơ sở để hình thành các mô hình ứng dụng công nghệ trong thực tiễn.
Với cách tiếp cận này, việc triển khai Nghị quyết 57 tại Quảng Ninh được thực hiện theo hướng đồng bộ giữa xây dựng định hướng, thiết kế mô hình và bố trí nguồn lực, góp phần tạo nền tảng cho phát triển kinh tế số và nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương trong giai đoạn tới.
Gắn kết quả cụ thể trong từng nhiệm vụ
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, việc triển khai Nghị quyết 57 được đặt trong bối cảnh địa phương có tiềm lực khoa học công nghệ lớn, song vẫn tồn tại những hạn chế trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ.

Phòng nghiên cứu công nghệ nano hiện đại của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: TTXVN phát
Theo số liệu của Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ thương mại hóa thành công kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ chỉ đạt khoảng 5% tổng số nhiệm vụ đã nghiệm thu; chỉ khoảng 10% kết quả nghiên cứu trong nước được tích hợp vào các dự án tại Khu Công nghệ cao; khoảng 20% dự án khởi nghiệp được kết nối với nguồn vốn đầu tư mạo hiểm hoặc doanh nghiệp lớn. Các hạn chế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như vướng mắc trong cơ chế định giá tài sản trí tuệ, thủ tục giao quyền khai thác kết quả nghiên cứu, tâm lý e ngại rủi ro trong triển khai cũng như sự thiếu gắn kết giữa các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Trên cơ sở đó, Thành phố triển khai Đề án thí điểm chính sách tạo động lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn nêu trên. Theo đề án, Nhà nước có thể hỗ trợ tới 50% kinh phí hoàn thiện sản phẩm, đồng thời triển khai các hoạt động hỗ trợ toàn diện từ hoàn thiện công nghệ, kiểm định, thử nghiệm thị trường đến kết nối doanh nghiệp và thị trường. Đề án cũng mở rộng cơ chế giao quyền khai thác kết quả nghiên cứu cho các tổ chức, cá nhân; đồng thời áp dụng cơ chế kiểm soát minh bạch, chấp nhận rủi ro có kiểm soát trong nghiên cứu và thương mại hóa.
Nhiều tổ chức, doanh nghiệp rất quan tâm cơ chế này; đã có 29 tổ chức đăng ký tham gia với 54 sản phẩm khoa học và công nghệ, tổng kinh phí dự kiến hơn 500 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ hơn 200 tỷ đồng. Tỷ lệ doanh nghiệp tham gia đạt hơn 40%, cho thấy sự tham gia của khu vực doanh nghiệp trong quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Trong khi đó, tại Cần Thơ, việc triển khai Nghị quyết 57 được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, gắn với mục tiêu tăng trưởng kinh tế của địa phương. Theo báo cáo của Sở Khoa học và Công nghệ, đến ngày 17/3, thành phố đã hoàn thành 132/244 nhiệm vụ được giao, đồng thời đang triển khai 112 nhiệm vụ đúng hạn (trong đó có 80 nhiệm vụ thường xuyên).
Về hạ tầng, các sở, ngành và địa phương đã kết nối mạng truyền số liệu chuyên dùng, bảo đảm thông suốt, an toàn. Tỷ lệ trang bị thiết bị phục vụ Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã đạt 77% đối với máy lấy số tự động, 82% đối với màn hình hiển thị và 94% đối với thiết bị tra cứu thông tin hồ sơ thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, thành phố Cần Thơ đã đưa vào vận hành hai khu khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo gồm Khu tư vấn và cung ứng dịch vụ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (CASIC Services Hub) và Khu khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo địa phương (CASIC Local Hub). Đồng thời, Cần Thơ đang xây dựng Đề án Trung tâm khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo cấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long nhằm nâng cao năng lực hỗ trợ đổi mới sáng tạo.
Qua trình triển khai Nghị quyết 57 tại các địa phương cho thấy xu hướng cụ thể hóa chủ trương, chính sách bằng các nhiệm vụ, giải pháp gắn với điều kiện thực tiễn. Vai trò chủ động, tích cực của địa phương góp phần đưa khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng đi vào đời sống, đóng góp thiết thực cho quá trình phát triển của mỗi địa phương nói riêng, của đất nước nói chung, trong giai đoạn tới.