Hưng Yên nằm giữa hai hệ thống sông lớn: sông Hồng và sông Thái Bình, được bồi đắp phù sa hàng nghìn năm, hình thành nên vùng văn hóa châu thổ sông Hồng - cái nôi của nền văn minh lúa nước đồng bằng Bắc Bộ.
Bên cạnh đó, các dòng sông chảy qua địa bản tỉnh như sông Hồng, sông Luộc, hệ thống sông Bắc Hưng Hải (Cửu An, Nghĩa Trụ, Kim Sơn, Điện Biên...), sông Trà Lý, sông Diêm Hộ, sông Kiến Giang… không chỉ nuôi dưỡng đất đai mà còn định hình nếp sống, phong tục và bản sắc con người Hưng Yên.
Vị trí, đặc điểm tự nhiên của các dòng sông
Hưng Yên nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, được bao bọc bởi dòng sông chính là sông Hồng ở phía tây nam và sông Thái Bình phía đông bắc. Sau khi hợp nhất địa giới, lãnh thổ được mở rộng thêm cả những dòng sông đổ ra biển.
Sông Hồng, đoạn qua Hưng Yên khoảng 100 km, tạo thành giới hạn tự nhiên về phía tây nam; Sông Hồng chảy qua địa bàn các xã, phường: Phụng Công, Văn Giang, Mễ Sở, Triệu Việt Vương, Châu Ninh, Đức Hợp, Sơn Nam, Phố Hiến, Hồng Châu, Tân Hưng, Long Hưng, Lê Quý Đôn, Hồng Minh, Vạn Xuân, Vũ Thư, Tân Thuận, Vũ Phúc, Vũ Tiên, Thư Vũ, Hồng Vũ, Bình Thanh, Bình Định, Nam Tiền Hải, Hưng Phú, đổ ra biển qua cửa Ba Lạt. Đây là "sông Mẹ" của vùng đồng bằng Bắc Bộ, có vai trò chính cấp nước, bồi đắp phù sa, tạo thuận lợi giao thông đường thủy, thoát lũ và có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, canh tác ven sông.

Rước nước ở lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung
Sông Bắc Hưng Hải là một hệ thống kênh đào nhân tạo, lấy nước từ sông Hồng tại cống Xuân Quan (nay thuộc xã Phụng Công). Dòng chính chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, qua các tỉnh, thành: Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Phòng (Hải Dương cũ)trước khi hòa vào sông Luộc và hệ thống sông Thái Bình. Sông Bắc Hưng Hải đóng vai trò quan trọng trong tưới tiêu nông nghiệp: cung cấp nước cho cả một vùng đất canh tác rộng lớn ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ; thoát lũ, chống úng: tiêu thoát nước mưa, điều hòa dòng chảy cho vùng đất thấp; cung cấp nước sinh hoạt và công nghiệp: cho các khu đô thị, làng nghề và giao thông đường thủy: nhiều đoạn sông nhánh được sử dụng vận chuyển hàng hóa, nông sản và góp phần cải tạo cảnh quan sinh thái: tạo không gian mặt nước, cây xanh, góp phần điều hòa khí hậu…
Sông Luộc còn được gọi là sông Phổ Đà, Đà Lỗ; sông Luộc có ranh giới tự nhiên giữa các xã: A Sào, Minh Thọ, Ngọc Lâm, Minh Thọ, Diên Hà, Tống Trân, Tiên La, Ngự Thiên, Tiên Hoa, Tiên Lữ, Long Hưng, Tân Hưng; nối sông Hồng với sông Thái Bình, là tuyến thủy lợi và giao thông đường thủy quan trọng, điều hòa lưu lượng nước và chống ngập cho vùng trung châu giữa Hà Nội - Hưng Yên - Hải Phòng - Bắc Ninh và mở rộng ra cả Ninh Bình.
Sông Thái Bình là dòng sông chính của hệ thống sông Thái Bình, được hợp thành từ ba nhánh lớn: sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam bắt nguồn từ vùng núi Đông Bắc thuộc các tỉnh Bắc Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên rồi hợp lưu tại khu vực Chí Linh để tạo thành sông Thái Bình. Từ đây, sông chảy qua Hải Phòng (Hải Dương cũ), Hưng Yên, rồi chia thành nhiều nhánh nhỏ (như sông Luộc, sông Hóa) trước khi đổ ra biển qua cửa Thái Bình. Sông Thái Bình là xương sống thủy lợi của cả vùng đồng bằng Bắc Bộ, có nguồn nước dồi dào, cung cấp cho hệ thống tưới tiêu và sinh hoạt. Sông Thái Bình cũng là tuyến giao thông đường thủy nối liền trung du với vùng đồng bằng và biển, từng là "đường sông huyết mạch" xưa kia. Ngoài ra, hệ thống sông Thái Bình gắn với đê sông lớn, có vai trò phòng chống lũ lụt, điều hòa dòng chảy và cải tạo đất phù sa.

Rước nước ở lễ hội làng Mạn Xuyên
Sông Trà Lý là phân lưu lớn của sông Hồng, tách ra ở khu vực hai xã Hồng Minh, Vạn Xuân. Sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, uốn khúc qua các xã, phường: Tiên Hưng, Nam Tiên Hưng, Thư Trì, Thái Bình, Trà Lý, Trần Lãm, Nam Đông Hưng, Đông Quan, Bình Nguyên, Trà Giang, Tây Thái Ninh, Bắc Thái Ninh, Nam Thái Ninh, Lê Lợi, Tiền Hải, Đông Tiền Hải sau đó đổ ra biển qua cửa Trà Lý. Đây cũng là dòng sông chính, đóng vai trò chủ lực trong tưới tiêu, giao thông đường thủy và thoát lũ; cung cấp nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt đô thị. Hai bờ sông Trà Lý có nhiều đê lớn và cống điều tiết.
Sông Diêm Hộ cũng là một phân lưu của sông Hồng, bắt nguồn từ khu vực xã Đông Hưng chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, qua các xã Bắc Đông Hưng, Đông Quan, Bắc Đông Quan, Nam Thụy Anh, Tây Thái Ninh, Thụy Anh, Bắc Thái Ninh, Thái Ninh, Thái Thụy, rồi đổ ra biển qua cửa Diêm Điền. Sông Diêm Hộ là đường tiêu nước và thoát lũ; giúp rửa mặn, cấp nước, đặc biệt cho vùng canh tác lúa nước và nuôi trồng thủy sản ven biển; các tuyến đê Diêm Hộ có vai trò quan trọng trong phòng chống lũ. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có các dòng sông nhánh như Cửu An, Nghĩa Trụ, Điện Biên, Kim Sơn, sông Hóa và sông Tiên Hưng, Hoan Ái, Kiến Giang... tạo nên mạng lưới sông ngòi dày đặc. Chính hệ thống sông ngòi đã hình thành nên địa hình châu thổ trù phú, khí hậu ẩm ướt, đất phù sa màu mỡ, đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp và thủy lợi, phòng chống lũ, phát triển giao thông đường thủy, cung cấp nước cho sinh hoạt và phát triển du lịch sinh thái.
Các dòng sông trong phát triển văn hóa
Mỗi dòng sông đều mang những đặc trưng văn hóa tiêu biểu, sông Hồng là linh hồn của vùng châu thổ gắn với truyền thuyết Chử Đồng Tử, lễ hội Phố Hiến, thơ ca về quê hương Hưng Yên; gắn với văn hóa cư dân trung châu, với những làng nghề nông nghiệp cổ, hát trống quân, chợ ven sông, phong tục cầu nước, rước nước, tạo nên nền văn hóa Việt cổ, trung tâm của văn minh sông Hồng. Hệ thống sông Bắc Hưng Hải là biểu tượng của công cuộc kiến thiết mới, phản ánh tinh thần lao động tập thể, cải tạo tự nhiên; sông Luộc gắn bó "thân thuộc" trong đời sống người dân nông thôn, gắn với ký ức, trò chơi, hát đối đáp, lễ hội làng… Bên dòng sông Trà Lý, Diêm Hộ, Kiến Giang cũng tạo nên văn hóa cư dân ven sông, ngư dân, với phong tục thờ thần, cầu ngư, hội làng bến chợ ven sông, cửa biển…
Sông - cái nôi hình thành làng xã và đô thị. Từ hàng nghìn năm trước, các dòng sông là nơi cư dân người Việt cổ chọn để lập làng, "Nhất cận thị, nhị cận giang" (thứ nhất là gần chợ, thứ nhì là gần sông) cho nên người xưa thường chọn cư trú ven sông, trồng lúa nước, quăng chài, kéo lưới đánh cá để sinh sống. Khu vực ven sông, nơi cửa biển nhanh chóng hình thành làng mạc và theo thời gian phát triển thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa. Sông Hồng mang phù sa bồi đắp, tạo ra những bãi bồi phì nhiêu. Các làng cổ hình thành như làng Nôm, làng Đa Hòa, Dạ Trạch, làng Mạn Xuyên, làng Bổng Điền, Lỗ Trường, Tam Tri…, đều hình thành trên nền văn hóa nông nghiệp ven sông. Dọc sông Thái Bình, Trà Lý cũng là nơi hình thành nhiều làng cổ, làng nghề lâu đời như: làng gốm, làng nghề mộc, đan lát mây tre, dệt chiếu, đóng thuyền…

Sắp lễ ra sông Luộc rước nước ở lễ hội đền Tống Trân
Ngoài ra, cũng nhờ vị trí thuận lợi trên tuyến giao thông đường thủy sông Hồng - sông Luộc, Hưng Yên xưa phát triển thành trung tâm thương mại sầm uất, đã tạo nên một đô thị cổ Phố Hiến đã từng chỉ đứng sau Kinh kỳ vào thế kỷ XVII - XVIII. Từ các bến sông, nhộn nhịp tàu buôn phương Tây và Trung Hoa, Nhật Bản cập bến, neo thuyền trao đổi hàng hóa, nghề thủ công cũng phát triển, đã làm nên một nền văn hóa giao thương quốc tế rực rỡ.
Nhiều làng nghề, khu dân cư, đô thị mới mọc lên dọc hai bên bờ sông Bắc Hưng Hải góp phần hình thành bản sắc văn hóa nông nghiệp và công nghiệp đan xen. Đến nay, sông Bắc Hưng Hải không chỉ mang giá trị sản xuất mà còn được định hướng trở thành không gian văn hóa và sinh thái đô thị, gắn với các chương trình bảo vệ môi trường và phát triển xanh.
Ngoài ra, khu vực sông Trà Lý tạo nên trục văn hóa thương mại cổ: dọc sông Trà Lý từng có nhiều bến chợ, làng nghề, bến thuyền buôn bán lúa, gạo, muối.
Sông và nếp sống dân cư. Cuộc sống của người Hưng Yên gắn liền với các dòng sông trong mọi sinh hoạt. Sông vừa là nguồn sống, vừa là mạch kết nối cộng đồng; nggười dân dùng nước sông để canh tác, cày cấy, giặt giũ, đánh bắt cá; trẻ con tắm sông, người già ra bến sông hóng mát; những phiên chợ bến thuyền, ven sông tấp nập người qua lại… Sông nuôi dưỡng văn hóa làng nghề, cung cấp nguồn nước thuận lợi để phát triển nghề thủ công như: gốm, đúc đồng, làm hương, dệt vải, chế biến nông sản… Nhiều làng nghề nổi tiếng như Cao Thôn, Lộng Thượng, Xuân Quan…, đều dựa vào giao thông đường thủy để trao đổi hàng hóa và thương mại. Dọc sông Diêm Hộ cũng chính là cái nôi của văn hóa nông nghiệp nước mặn, nước lợ, gắn với nghề đánh bắt và làm muối. Cũng chính tên gọi "Diêm Hộ" (nghĩa là "nơi giữ muối") đã phản ánh đặc trưng sinh kế và văn hóa của dân cư ở đây.
Sông còn là không gian sinh hoạt cộng đồng: lễ hội làng, đua thuyền, tục lệ cầu mưa, rước nước cầu mùa. Cảnh sắc và đời sống sông nước in đậm trong ca dao, dân ca, hát trống quân, hát chèo của vùng Hưng Yên. Người dân vừa hát, vừa chèo, vừa đối đáp những câu mộc mạc nhưng sâu đậm tình quê. Các vùng ven sông Luộc, sông Hồng còn lưu giữ nhiều làn điệu trống quân, hát đúm, phản ánh tâm hồn lạc quan, yêu đời đằm thắm của người dân vùng đồng bằng sông Hồng.
Bên cạnh đó, nguồn thực phẩm cá tôm từ sông, cùng sản vật vùng bãi cũng tạo nên nét ẩm thực đặc trưng. Đặc biệt như cá mòi sông Hồng, tôm cua sông Luộc, nhãn lồng, rươi, cá sông Trà Lý, Kiến Giang…
Dòng sông trong tín ngưỡng dân gian. Sông không chỉ là yếu tố tự nhiên, mà còn là thực thể linh thiêng trong tâm thức người dân. Từ xa xưa, cư dân Hưng Yên đã tin rằng các vị thủy thần cai quản sông nước có thể ban phát mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Bởi vậy, trong các lễ hội truyền thống, nghi thức rước nước, cầu mưa, thả thuyền là phần không thể thiếu. Những lễ hội cổ truyền tiêu biểu như: đền Mẫu, đền Mây ở Phố Hiến; lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung ở Đa Hòa, Dạ Trạch đậm sắc truyền thuyết về tình yêu bên bến sông; lễ hội đền Tống Trân ở thôn An Cầu; lễ hội chùa Keo ở xã Vũ Tiên; lễ hội đền Mẫu Quế Hoa ở Bổng Điền, Tân Thuận; lễ hội đình, đền và bến tượng A Sào; lễ hội đền Chòi, chùa Bến ở xã Đông Thụy Anh... Dòng sông trở thành không gian thiêng, nơi con người hướng về cội nguồn, về quê hương, gửi gắm ước vọng hạnh phúc, no đủ. Thêm nhiều lễ hội cầu ngư, lễ hội mở cửa biển, lễ hội làng nghề làm muối truyền thống vẫn còn được duy trì.

Cầu Nôm (Cầu đá làng Nôm) qua sông Nguyệt Đức, xã Đại Đồng, Hưng Yên
Sông – biểu tượng trong đời sống tinh thần và bản sắc địa phương. Hình ảnh sông Hồng là biểu tượng văn hóa trong kiến trúc, thơ ca, truyện kể dân gian. Truyền thuyết Chử Đồng Tử - Tiên Dung diễn ra bên bến sông Hồng, chính là huyền thoại khởi nguồn văn hóa sông Hồng.
Sông Bắc Hưng Hải không chỉ là "mạch nước nhân tạo của đồng bằng Bắc Bộ" mà còn là biểu tượng của tinh thần lao động và đoàn kết, thể hiện truyền thống cần cù, sáng tạo của cư dân đồng bằng Bắc Bộ và là biểu tượng cho mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Hàng vạn nông dân, bộ đội, thanh niên xung phong đã tham gia đào sông trong những năm đầu xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, cũng vì thế, sông còn mang ý nghĩa lịch sử và cách mạng sâu sắc. Sông còn thể hiện niềm tự hào của người dân Hưng Yên. Trong dân gian, vẫn thường truyền nhau câu nói: "Nhờ con sông Bắc Hưng Hải, đồng ta xanh, lúa ta tốt, làng ta no".
Sông Thái Bình, cũng là một biểu tượng, thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa thiên nhiên và con người. Cư dân bên bờ dòng sông mang đậm bản sắc văn hóa "sông nước đồng bằng", vừa cần cù, hiền hòa, vừa gắn bó với nghề nông và buôn bán đường thủy.
Sông Trà Lý, sông Kiến Giang gắn với nhiều truyền thuyết dân gian, ca dao, và lễ hội của cư dân ven sông. Đây còn là không gian văn hóa tiêu biểu cho tính cách người Thái Bình: cần cù, năng động, thích ứng với thiên nhiên, "ăn sóng nói gió". Trong thi ca hiện đại, hình ảnh sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Diêm Hộ vẫn hiện diện như biểu tượng của quê hương, biểu tượng của tình yêu và ký ức.
Có thể cảm nhận được, trong tâm thức của người Hưng Yên, dòng sông chính là biểu tượng của sự sống, của ký ức và lòng biết ơn thiên nhiên. Sông vừa mang tính vật chất để nuôi dưỡng cuộc sống, vừa mang tính tinh thần để gìn giữ ký ức văn hóa. Chính không gian văn hóa sông nước ấy đã tạo nên bản sắc riêng cho vùng đất địa linh, nhân kiệt Hưng Yên: hiền hòa mà năng động, trầm mặc mà cởi mở, mạnh mẽ mà truyền thống và luôn sẵn sàng đổi mới.
Có thể nói rằng, các dòng sông ở Hưng Yên không chỉ là nền tảng cho sản xuất nông nghiệp nói riêng và sự phát triển kinh tế xã hội nói chung mà còn là "mạch nguồn văn hóa" của tỉnh Hưng Yên, đã và đang tạo nên một không gian văn hóa sông nước đặc trưng, đa dạng. Đây chính là "dòng chảy văn hóa", gắn kết cộng đồng, nuôi dưỡng bản sắc, tạo nên giá trị mềm cho sự phát triển bền vững của tỉnh trong thời gian tới.