Văn hoá

Điện ảnh Trung Quốc sau 30 năm mở cửa

16/12/2008 11:10 GMT+7 Google News

(TT&VH) - Nhờ có chính sách mở cửa và cải cách từ năm 1978 mà nền kinh doanh điện ảnh đang “èo uột” của Trung Quốc đã có cơ hội được phát triển. Giờ đây, nền nghệ thuật thứ bảy của nước này đã có bước tiến rõ rệt và ngày càng được đánh giá cao trên phim trường quốc tế. Trong khi đó, các ngôi sao điện ảnh như Chương Tử Di, Lý Liên Kiệt và Thành Long đã trở thành những gương mặt quen thuộc ở cả trong và ngoài nước. Song nền điện ảnh Trung Quốc vẫn còn nhiều bất cập.

Bộ phim Red Sorghum

Phá vỡ sự độc quyền phát hành

Từ năm 1978 đến nay, người dân Trung Quốc bắt đầu hòa nhập mạnh mẽ với thế giới bên ngoài. Với niềm say mê nghệ thuật họ đã dồn nhiệt huyết của mình cho điện ảnh. Khán giả nô nức đến rạp chiếu ngày càng đông. Năm 1979, Trung Quốc đã nêu kỷ lục thế giới về lượng khán giả đến rạp xem phim khi thu hút tới 29,3 tỷ lượt người.

Với nhiều trải nghiệm trong cuộc Cách mạng Văn hóa (1966-76) và được truyền cảm hứng từ kỷ nguyên mới, các nhà làm phim Trung Quốc đã tập trung mô tả hiện thực và mối quan tâm của con người trong phim của mình. Họ đã cách mạng hóa phong cách biểu cảm của điện ảnh Trung Quốc, nhờ vậy mà những bộ phim như Mục mã nhân (1982, đạo diễn Tạ Tấn), Hoàng thổ (1984, đạo diễn Trần Khải Ca, quay phim Trương Nghệ Mưu) và Cao lương đỏ (1987, đạo diễn Trương Nghệ Mưu) đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng khán giả.

Phim Trung Quốc bắt đầu thu hút được sự quan tâm quốc tế với thành công của Cao lương đỏ, bộ phim đầu tay của đạo diễn Trương Nghệ Mưu đoạt giải Gấu Vàng tại LHP Quốc tế Berlin năm 1988. Đây là lần đầu tiên phim Trung Quốc “rinh” được giải thưởng điện ảnh hàng đầu quốc tế và tác phẩm điện ảnh này được coi là dấu hiệu nổi lên của điện ảnh Đại lục trên phim trường quốc tế.

Năm 1993, các nhà chức trách đã áp dụng một loạt biện pháp mới nhằm giảm thiểu sự can thiệp quản lý trong các xưởng phim và phá vỡ sự độc quyền phát hành của Tập đoàn Điện ảnh Trung Quốc. Đây là bước đầu tiên hướng tới sự hợp nhất và mở rộng thị trường điện ảnh ở đất nước này. Thế nhưng, thời điểm đó thị trường còn yếu và ngân sách dành cho các rạp chiếu bị giảm mạnh. Nhằm đảo ngược được xu thế ảm đạm đó, năm 1994 Cục Phát thanh, Điện ảnh và Truyền hình Quốc gia (SARFT) đã cho phép Tập đoàn Điện ảnh Trung Quốc được nhập 10 phim nước ngoài/năm, tất cả số tiền thu được từ các phim nhập khẩu đều được chia cho các bên liên quan đến quá trình làm phim và phát hành. Khi thị trường Trung Quốc mở cửa cho các sản phẩm nước ngoài, các nhà chức trách cam kết ủng hộ phim nội địa. Năm 1995, Hội đồng Quốc gia đã ban hành các quy chế về việc quản lý phim, trong đó quy định phim nội địa phải chiếm 2/3 tổng số phim được chiếu ở rạp hàng năm. Cuối những năm 1990, Chính phủ giảm bớt đầu tư sản xuất và phát hành phim, khuyến khích huy động nguồn vốn tư nhân, thay đổi cơ cấu của các công ty điện ảnh trực thuộc nhà nước và thành lập nhiều hãng phim lớm. Theo thống kê, năm 2006 có khoảng 2.000 công ty tư nhân đã đầu tư sản xuất phim nhựa, chương trình TV và phát hành khắp Trung Quốc. Giờ đây, những công ty này đóng vai trò hết sức có ý nghĩa vào thị trường điện ảnh và đã góp phần tạo nên thành công cho những phim bom tấn như Anh hùng, Đám tang của một quan lớn, Thập diện mai phục

Thành công quốc tế nhưng còn nhiều bất cập

Khi gia nhập WTO hồi năm 2001, Trung Quốc đã tăng lượng nhập khẩu phim lên 20 phim/năm – gấp đôi so với trước, thế nhưng con số này không hề gây ảnh hưởng gì tới nền kinh doanh điện ảnh của nước này. Được truyền cảm hứng từ thành công của phim Ngọa hổ, tàng long của đạo diễn Lý An, các nhà làm phim Trung Quốc quyết định đánh cược vào các dự án điện ảnh có kinh phí lớn và phim nghệ thuật có sự tham gia của dàn diễn viên ngôi sao. Thế nên chẳng có gì ngạc nhiên khi bộ phim Anh hùng tốn kém 31 triệu USD của đạo diễn Trương Nghệ Mưu đã tạo một dấu mốc cả về kinh phí làm phim cũng như doanh thu phòng vé khi “bỏ két” được 250 triệu NDT ở thị trường Đại lục và 53 triệu USD ở thị trường Mỹ - trở thành phim nước ngoài đạt doanh thu cao thứ 3 ở xứ cờ hoa từ năm 1981-2005.

+ 10 Phim ăn khách:

1. Day The Earth Stood Still, The: 31 triệu USD
2. Four Christmases: 13,2 triệu USD
3. Twilight: 8 triệu USD
4. Bolt: 7.5 triệu USD
5. Australia: 4.2 triệu USD
6. Quantum Of Solace: 3.8 triệu USD
7. Nothing Like The Holidays: 3.5 triệu USD
8. Madagascar Escape 2 Africa: 3.2 triệu USD
9. Milk: 2.6 triệu USD
10. Transporter 3: 2.2 triệu USD

Theo đà thành công thương mại của Anh hùng, đạo diễn Trương tiếp tục tung ra các phim bom tấn ăn khách Thập diện mai phục (2004) và Hoàng kim giáp (2006). Cách làm phim của ông đã được nhiều nhà làm phim hưởng ứng, điển hình là đạo diễn Trần Khải Ca. Năm 2005, bộ phim Vô cực của đạo diễn Trần đã gây được nhiều sự quan tâm của công luận khi “rót” tới 35 triệu USD cho dự án điện ảnh này. Kết quả là phim thành công thương mại nhưng lại bị nhiều chỉ trích từ giới phê bình. Hay như đạo diễn Phùng Tiểu Cương, thời điểm đó đang gặt hái với dòng phim hài, nhưng ông đã quay sang làm phim nghệ thuật và gây tiếng vang với phim Dạ yến (2006). Thành công ở thị trường nước ngoài đã khuyến khích Chính phủ và các nhà làm phim tích cực quảng bá điện ảnh Trung Hoa trên trường quốc tế. Nhờ đó mà năm 2007 Trung Quốc đã sản xuất được 120 phim, đứng thứ 3 thế giới. Doanh thu phòng vé năm 2007 đã tăng 30% so với năm 2006 khi thu được hơn 3 tỷ NDT (khoảng 440 triệu USD).

30 năm mở cửa, nền điện ảnh Trung Quốc đã có những bước tiến đáng kể, song vẫn còn có nhiều vấn đề bất cập chưa được giải quyết. Trước hết là hệ thống quản lý. Chưa có hệ thống phân loại phim khiến nhiều nhà làm phim và nhà phát hành thấy không thoải mái. Nhiều đề tài làm phim vẫn bị cấm kỵ. Zhao Shi, Cục Phó SARFT cũng phải thừa nhận, các hàng rào quản lý đang tác động mạnh tới nền công nghiệp điện ảnh. Thứ hai, nhìn chung phim Trung Quốc thiếu tính cạnh tranh. Cốt truyện và việc áp dụng công nghệ còn yếu. Nhiều đạo diễn cho rằng phim Trung Quốc chưa gắn kết được với khán giả. Các nhà làm phim chưa làm ra được những bộ phim mang tính giải trí mà khán giả mong muốn. Thứ 3, giá vé xem phim quá cao: 60-80 NDT( 9-11 USD)/vé hạng bình thường, còn vé hạng sang là 3.000 NDT (438 USD). Điều đó đã làm giảm đáng kể lượng khán giả đến rạp bởi họ xem phim ở nhà bằng đĩa lậu.
 
Lương Tuấn Vĩ

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm