Một chuyến đi

Đến và viết về miền đá

20/02/2009 18:44 GMT+7 Google News
(Bài dự thi) - Chiếc xe khách rù rì như con rùa đưa chúng tôi vượt qua bao nhiêu núi cao để đến được Đồng Văn thì trời khuya. Cuộc liên hoan muộn mằn đó, đoàn hát về nỗi nhớ Hà Nội.


Đến và viết về miền đá - Nguyễn Văn Học
Bài viết này đã được chương trình Let’s Càphê của
Kênh truyền hình Let’s Việt - VTC9 giới thiệu vào ngày 1/03/2009

Ô hay, chúng tôi vừa chào tạm biệt chốn đô thành có hai ngày để đến Cao nguyên này với tâm trạng hào hứng, và giờ những tâm trạng cất lên lời ca đã giảm mất phần nào nhụê khí. Thế mà đồng bào ta vẫn sống được cả đời trên cao nguyên, sinh con đẻ cái đời này qua đời khác? Mục đích chuyến đi làm tìm hiểu về đời sống các dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa. Hà Giang là một tỉnh với nhiều khó khăn vì diện tích chỉ cao nguyên với đá, đường biên giới giáp Trung Quốc dài và địa hình hiểm trở nên là nơi được chọn là điểm đến của đoàn.


Tiếng hát của mấy cô gái nằng nặng như tiếng mưa ban chiều. Thời tiết vùng cao thất thường như cô gái khó tính, gay gắt nắng đến quắt khô những thân ngô trên núi, cháy xém tóc của lũ trẻ trên nương, nhưng mưa lại ào ạt đổ lúc nào không biết, để rồi sức nước xối moi từng chút đất mà người dân ra sức đắp bồi cho đá để trồng ngô ném xuống thung lũng, rồi khi mưa tạnh, nắng lên, người dân lại cẩn thận đào và cõng lên núi. Chị Đào, cán bộ của Sở văn hoá Hà Giang là người trực tiếp đưa đoàn đi, giọng Đào khàn khàn “Đây không phải là lần đầu tiên tôi chứng kiến sự thất vọng của khách đến thăm, nhưng chúng tôi đã nói rồi, đoàn đến đây là để tìm hiểu chứ không phải để du lịch hưởng thụ”. Nghe vậy, hầu như trong mỗi người đều vỡ vạc ra một điều gì đấy, thoáng chút ân hận vì ý nghĩ của mình. Rồi xin đi nghỉ để sớm mai lên đỉnh Lũng Cú.

Sáng sớm, sau khi ăn sáng qua quýt, chiếc xe lại ẵm chúng tôi bên trong, bò lê leo lên những con dốc, xuống dốc để đến Lũng Cú. Vẫn chỉ núi đá và núi đá, những đám sương chờn vờn quanh những đỉnh núi, và những thân ngô trải khắp những sườn núi, vẫy vẫy lá xanh như đón chào. Ngay từ khi ra khỏi thị xã Hà Giang thì trước mắt chỉ núi là núi. Những dãy núi đá tai mèo giăng giăng vây kín bốn bề. Đá tai mèo lởm chởm sắc nhọn như những chiếc răng khủng long ghớm ghiếc! Đá như một thứ đặc sản mà ông trời ban cho họ, để tạo thêm ý chí và sức sống của những con người cả đời sẽ phải gắn bó với với đá. Sống trên đá chết nằm trong đá.  Người dưới xuôi lên đều lắc đầu, cuộc sống khắc nghiệt thế. Đất không có trên núi, nước không có trên núi thì người ta cõng đất lên bón cho đá. Và mỗi một hốc đá có một thân ngô mọc lên. Hằng ngày, người dẫn vẫn giành giật với thiên nhiên để bảo vệ những cây ngô, là cuộc sống của mình.


Xe dừng lại ở nhà văn hoá xã, một lũ trẻ từ đâu ào ra như trẻ dưới quê thấy mẹ đi chợ về. Chúng lạ lẫm nhìn bằng những đôi mắt trong veo xoe tròn, với bộ mặt lem luốc và mái tóc xác xơ. Đường đến cột cờ Lũng Cú không còn bao xa, nên đoàn quyết định đi bộ. Lũ trẻ có lẽ sẽ nhất quyết đi theo. Khi chúng được nhận những cái kẹo nhỏ nhắn, bóc ra, tóp tép nhai ngon lành, thì dường như tâm trạng phơi phới vui. Chân chúng thoăn thoắt bước, và điều lạ là một đứa trẻ ba bốn tuổi có thể đi và leo bậc nhanh hơn một người lớn dưới xuôi. Có người nói trẻ em ở đây biết leo núi trước khi biết nói, ngẫm cũng đúng phần nào. Leo lên các bậc đá, chừng một đoạn lại phải nghỉ vì mỏi chân và mệt, mồ hôi toá ra. Những đứa trẻ con bé xíu vẫn đầu trần, thuỷ chung bước cùng với đoàn dưới cái nắng chói gắt và chẳng mũ nón gì. Có đứa còn mặc chiếc áo len tả tơi rách, bụi bẩn bám đầy và không mặc quần. Có lẽ đây là tấm áo duy nhất nó có được và mặc từ mùa đông cho đến giờ.

Đến được đỉnh cao Lũng Cú, cũng là mơ ước trong thời thanh xuân của mình. Và mãi sau này, khi về xuôi hay đặt chân đến bất cứ đâu, thì ký ức của tôi vẫn có hình ảnh của một miền đá núi trập trùng, nắng và mưa thất thường. Nhưng thường là nắng và mùa khô kéo dài, vì thế mà người dân luôn thiếu nước. Cả đoàn rủ nhau chụp hình, ghi lại khoảnh khắc đặt chân đến vùng đất này, như muốn mang về xuôi khoảnh khắc thiêng liêng của đời sinh viên. Đến lúc này, tôi hiểu vì sao lũ trẻ nhiệt tình đi theo đoàn. Chúng nghĩ đoàn leo lên đỉnh sẽ ăn trưa ở đó, dù không thấy bất kỳ dấu hiệu nào của một bữa trưa mà các anh chị sinh viên mang theo, nhưng chúng chờ đợi sẽ có ai đó đi sau mang lên.


Biết được điều đó là do cuộc trò chuyện của Hàn với lũ trẻ, chúng hỏi các chị ăn trưa ở đây à. Hàn nói các chị không ăn trưa ở đây, mà sẽ về bản. Thấp thoáng sự thất vọng của lũ trẻ. Người xuống bớt dần, chỉ những cô gái thích ghi hình của mình cố chụp cho được nhiều ảnh đẹp mang về xuôi. Hàn là cô sinh viên tinh nghịch, trả ơn lũ trẻ đi theo mình bằng cách cho chúng cái diều mua từ Tuyên Quang. Diều là một thứ xa lạ với chúng. Chiếc diều đã chẳng thể tung bay trên vùng trời của Lũng Cú, dù Hàn có cố gắng thế nào. Và khi vào tay bọn trẻ, món đồ chơi thú vị đẹp đẽ đã bị kéo lê, sợi dây dài vướng vào cây mận.

Đứng bên cạnh cột cờ Lũng Cú, tôi hận là mình chẳng đủ sức để hét lên rằng: Rất nhiều người nơi đây cần những bàn tay giúp đỡ. Và vì mình quá bé nhỏ, chẳng làm được gì cho con người nơi đây. Định làm một bài thơ giữa miền hoang sơ này, nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu. Ca ngợi họ ư, hay nói nên sức sống của họ trên cheo leo vách đá khắc nghiệt. Người dân tự viết lên bài thơ của họ trên cao nguyên rồi, và bài thơ tôi chỉ là một phụ hoạ nhỏ bé, nghe như tiếng thở dài giữa lưng chừng dốc.


Qua một tuần sống với cao nguyên và Lũng Cú. Nhìn qua cửa xe, váy áo của những cô gái trên nương như bông hoa núi rừng nở bung. Tiếc là mình chẳng thể sống với họ lâu hơn nữa, hiểu họ hơn và khắc sâu hình ảnh của một cao nguyên hoang sơ bình dị. Để sau này, giữa đô thành, nhớ nắng, gió, trăng và tiếng đàn môi… day dứt. Nhưng cũng hiểu rằng, mình phải tự đặt lên vai một tình yêu và trách nhiệm, là viết về miền đá Hà Giang với tất cả nhiệt huyết.

Nguyễn Văn Học

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm