
Thầy đồ là những thầy khóa hoặc đã trượt kỳ thi hương hoặc đang chờ khoa thi kế tiếp, hoặc là những người đỗ đạt. Có những thầy đồ là những vị túc nho từng hiển danh khoa bảng nhưng không ra làm quan lui về quê ở vui thú điền viên và chuyên tâm vào việc dạy học. Học trò đến xin học (gọi là nhập môn) không phải lễ lớn, chỉ cần chai rượu, cơi trầu quả cau, vài hào mua giấy bút, làm lễ bái sư là được nhận vào học. Khổng Tử được người đời phong là “Vạn thế sư biểu” (người thầy của muôn đời) thu nhận học trò không kể sang hèn, chỉ có một bó nem thôi cũng đủ.

Các thế hệ môn sinh của một thầy thường tổ chức nhau lại bất luận tuổi tác, trình độ, địa vị xã hội thế nào trong một tổ chức gọi là Hội đồng môn. Hội có trưởng tràng, giám tràng và một số cán tràng giúp việc cho trưởng tràng. Hội đồng môn vận động các gia đình môn sinh đóng góp tiền của để tạo ruộng, tạo trâu phân nhau cày cấy, đến mùa gặt tự gánh về gia đình thầy để nhà thầy chi dùng. Khi thầy mất thì dùng ruộng đó lo tang ma cho thầy và giỗ tết, tế tự hàng năm. Lúc thầy mất, trưởng tràng có nhiệm vụ thông báo cho toàn thể anh em đồng môn về thu tang thầy. Học trò để tang thầy cũng ba năm như để tang cha mẹ nhưng không mặc tang phục, gọi là tâm tang tức là để tang trong lòng.
Trong lịch sử nước ta không thiếu những câu chuyện cảm động về tình thầy trò. Ai cũng biết câu chuyện Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát làm quan đến nhất phẩm trong triều nhưng khi trở về thăm thầy vẫn xuống ngựa từ rất xa đi bộ vào, khép nép đứng nghe lời giảng dụ của thầy. Nguyễn Bỉnh Khiêm sau khi dâng sớ xin giết mười tám kẻ gian thần mà vua không nghe đã từ quan về dạy học ở am Bạch Vân. Học trò của ông có nhiều người văn võ toàn tài như Trạng Bùng - Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ, Lương Hữu Khánh... Khi Lương Hữu Khánh bỏ nhà Mạc vào Thanh Hóa phò vua Lê vẫn gửi quế Thanh ra biếu thầy mình. Dưới thời Tây Sơn, Quang Trung Nguyễn Huệ biết được Nguyễn Thiếp (La Sơn Phu Tử) là thầy giáo của nhiều triều thần Lê - Trịnh đương thời đã nhiều lần viết thư mời ra làm quân sư để thu phục nhân sĩ Bắc Hà.