Chiều 13/5, tại Hà Nội, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 9 luật đã được Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội XVI thông qua.
Các luật này gồm: Luật Thủ đô (sửa đổi); Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi); Luật Hộ tịch (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý.
Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Cấn Đình Tài chủ trì Họp báo.

Quang cảnh buổi họp báo. Ảnh: Tuấn Anh - TTXVN
Tạo đột phá để Hà Nội phát triển trong kỷ nguyên mới
Luật Thủ đô (sửa đổi) gồm 9 chương, 36 điều, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026; được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý quan trọng, thúc đẩy Hà Nội phát triển xứng tầm trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước.
Đáng chú ý, Luật sửa đổi các quy định theo hướng phân quyền triệt để, toàn diện cho chính quyền thành phố được quy định, quyết định những nội dung thuộc thẩm quyền trong các lĩnh vực nhằm tăng tính chủ động, sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền thành phố như: tổ chức, bộ máy; thu, chi ngân sách, đặc biệt là các quy định tạo điều kiện thu hút nguồn lực cho Thủ đô phát triển; thực hiện quy hoạch, chỉnh trang, tái thiết đô thị; quản lý, sử dụng tài nguyên; ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo; phát triển, liên kết vùng Thủ đô; phát triển y tế, văn hóa; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, trong đó có việc áp dụng biện pháp hành chính cấp bách phù hợp với vị trí, vai trò của Thủ đô.
Theo đó, HĐND và UBND thành phố được ban hành văn bản để điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính đã được quy định tại văn bản của cơ quan cấp trên nhằm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương, bảo đảm yêu cầu cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục, thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, không làm phát sinh thêm thành phần hồ sơ, điều kiện, yêu cầu hoặc kéo dài thời gian giải quyết thủ tục hành chính. Đồng thời, thành phố được ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định biện pháp đặc thù để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội mà khác hoặc chưa có quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ. Việc ban hành các văn bản này phải tuân thủ trình tự, thủ tục chặt chẽ; bảo đảm cơ chế kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình theo quy định...

Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Cấn Văn Tài chủ trì họp báo. Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN
Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 gồm 4 chương và 31 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/9/2026; nhằm tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, đặc biệt là thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng"...
Đáng chú ý, Luật điều chỉnh phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin của chính quyền địa phương phù hợp với thực tiễn và mô hình tổ chức mới sau sắp xếp; mở rộng phạm vi thông tin phải được công khai; thông qua việc bổ sung các nhóm thông tin quan trọng, gắn trực tiếp với đời sống sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp; phân định rõ ràng phạm vi thông tin công dân được tiếp cận, không được tiếp cận và được tiếp cận có điều kiện, bảo đảm sự hài hòa giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân với yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước, an ninh quốc gia và bảo vệ dữ liệu cá nhân; đa dạng hình thức công khai, cung cấp thông tin, khuyến khích áp dụng phương thức điện tử nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân trên môi trường số...
Với 4 chương, 30 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027, Luật Hộ tịch (sửa đổi) có nhiều đổi mới căn bản cả về tư duy lập pháp, mô hình quản lý và phương thức tổ chức thực hiện.
Nổi bật, Luật đã phân quyền triệt để, gắn với nâng cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở, thẩm quyền đăng ký tất cả các sự kiện, thông tin hộ tịch trong nước được giao cho UBND cấp xã. Người dân được quyền yêu cầu đăng ký hộ tịch tại bất kỳ UBND cấp xã nào, không phụ thuộc nơi cư trú, địa giới hành chính.
Luật quy định đẩy mạnh số hóa dữ liệu hộ tịch và xác lập giá trị pháp lý của dữ liệu hộ tịch điện tử, xác định nguyên tắc "người dân chỉ cung cấp thông tin một lần", các cơ quan nhà nước có trách nhiệm khai thác, chia sẻ và sử dụng dữ liệu đã có để giải quyết thủ tục hành chính, thay vì yêu cầu người dân cung cấp nhiều loại giấy tờ như trước đây.
Luật đã chuyển từ phương thức "quản lý thụ động" sang "phục vụ chủ động" với các quy định về đăng ký khai sinh, khai tử chủ động trên cơ sở kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh với hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử...

Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thị Hà giới thiệu khái quát nội dung Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng. Ảnh: Tuấn Anh - TTXVN
Chú trọng khen thưởng cá nhân, tập thể vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng gồm 4 điều, có hiệu lực kể từ ngày 1/10/2026; được ban hành nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về thi đua, khen thưởng sau khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; tiếp tục thể chế hóa các chủ trương của Đảng về phát triển đất nước trong tình hình mới; đơn giản hóa thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và tăng cường hiệu lực, hiệu quả, trật tự, kỷ cương quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng; tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc và cả hệ thống chính trị…
Đáng chú ý, Luật giữ nguyên quy định về nguyên tắc "không khen thưởng nhiều lần, nhiều hình thức cho một thành tích đạt được"; bổ sung cụm từ "trừ khen thưởng công trạng" để thống nhất giữa nguyên tắc và tiêu chuẩn khen thưởng; bổ sung nguyên tắc "chú trọng khen thưởng cá nhân, tập thể vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; cá nhân, tập thể có thành tích tiêu biểu mang lại hiệu quả thiết thực vì lợi ích chung, đi đầu trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và ứng dụng khoa học và công nghệ". Luật quy định riêng 2 loại hình khen thưởng "khen thưởng phong trào thi đua theo chuyên đề" và "khen thưởng chuyên đề"...
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) gồm 9 chương, 61 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027; được ban hành nhằm tiếp tục thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng về phát huy dân chủ, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; giải quyết những bất cập, hạn chế trong thực tiễn tổ chức thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; phù hợp với mô hình tổ chức và hoạt động của các cơ quan sau sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp; phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng Chính phủ số, xã hội số, tạo thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân trong thực hiện và đảm bảo thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; tiếp tục tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh giới thiệu khái quát nội dung Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Thủ đô, Luật Hộ tịch, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Công chứng. Ảnh: Tuấn Anh - TTXVN
Luật có nhiều điểm mới, đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho mọi người liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; bổ sung biện pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; đơn giản hóa thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo...
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài gồm 2 điều, có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2026. Việc xây dựng Luật nhằm khắc phục một số hạn chế, bất cập của Luật năm 2009 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm bảo đảm hiệu quả hoạt động của cơ quan đại diện đáp ứng yêu cầu mới của tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện thống nhất quản lý hoạt động đối ngoại, tăng cường tính chuyên nghiệp trong hoạt động của cơ quan đại diện, đáp ứng yêu cầu về chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền của Đảng và Nhà nước, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, góp phần xây dựng nền ngoại giao hiện đại, thể hiện vị trí của công tác đối ngoại là trọng yếu, thường xuyên.
Đáng chú ý, cùng với việc bổ sung phạm vi, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, Luật đã kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và tăng cường tính chuyên nghiệp, hiện đại; đẩy mạnh phân quyền, phân cấp trong công tác quản lý của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; chế độ, chính sách đối với thành viên cơ quan đại diện và thân nhân cũng như một số nội dung khác nhằm khắc phục mâu thuẫn, chồng chéo, chưa phù hợp với quy định pháp luật chuyên ngành hiện hành và một số nội dung cần quy định rõ hơn tại Luật…
Tạo động lực phát triển cho cá nhân, doanh nghiệp
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt đã được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 24/4/2026 tại Kỳ họp thứ nhất và có hiệu lực thi hành từ ngày được thông qua.
Luật gồm 5 điều; được ban hành nhằm hoàn thiện quy định về chính sách thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hộ, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp quy mô nhỏ nhằm khuyến khích, tạo động lực phát triển cho cá nhân, doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế...
Để hỗ trợ hộ, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là những hộ, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp có quy mô nhỏ, đồng thời đảm bảo công bằng trong chính sách thuế thu nhập giữa hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp quy mô nhỏ, khuyến khích hộ, cá nhân chuyển lên doanh nghiệp; trên cơ sở đánh giá tác động (cân đối giữa tác động giảm thu ngân sách với việc tạo điều kiện hỗ trợ kinh doanh có nguồn lực để phát triển sản xuất kinh doanh, ổn định tâm lý xã hội), Luật đã sửa đổi theo hướng không quy định cụ thể ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng của hộ, cá nhân kinh doanh tại Luật, bổ sung mức doanh thu được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp và giao Chính phủ căn cứ các chỉ số kinh tế vĩ mô, khả năng cân đối ngân sách để quy định mức doanh thu phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
Việc phân quyền cho Chính phủ sẽ tạo cơ sở pháp lý để Chính phủ có thể điều hành linh hoạt chính sách tài khóa, trong đó có chính sách thuế và cũng là thể chế hóa nội dung nêu tại Kết luận số 18-KL/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Luật Tổ chức Chính phủ và tương tự quy định giao thẩm quyền cho Chính phủ tại một số Luật, Nghị quyết của Quốc hội về thuế hiện hành.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng gồm 3 điều; có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027.
Đáng chú ý, Luật sửa đổi các quy định để đẩy mạnh thực hiện nguyên tắc phân quyền trong quản lý nhà nước về công chứng, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp trong việc thành lập và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng... Luật sửa đổi một số quy định về thủ tục công chứng và hồ sơ công chứng theo hướng đơn giản hóa, quán triệt nguyên tắc khai thác, sử dụng dữ liệu trong quá trình nộp hồ sơ và giải quyết yêu cầu công chứng, nhưng vẫn bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của mô hình công chứng nội dung. Đồng thời, Luật cũng sửa đổi khoản 3 Điều 68 của Luật Công chứng năm 2024 theo hướng cho phép cung cấp bản gốc văn bản công chứng cho cơ quan tiến hành tố tụng để thực hiện xác minh, giám định tài liệu phục vụ việc tiến hành tố tụng, đồng thời có quy định nhằm bảo đảm gốc văn bản công chứng được bảo quản chặt chẽ, bàn giao lại đầy đủ và không ảnh hưởng quá lớn đến quyền lợi hợp pháp của người yêu cầu công chứng trong việc yêu cầu cấp bản sao hoặc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ văn bản công chứng...
Cũng có hiệu lực từ ngày 1/1/2027, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý có 3 điều.
Với việc mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện thể chế, tăng cường phân cấp, huy động hiệu quả nguồn lực xã hội và đẩy mạnh chuyển đổi số, Luật đã tạo lập một nền tảng pháp lý đồng bộ, hiện đại và linh hoạt hơn cho hoạt động trợ giúp pháp lý trong giai đoạn mới. Đây là bước tiến quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý, góp phần bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Luật đã mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý khi bỏ điều kiện "có khó khăn về tài chính" đối với các nhóm đối tượng: Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; người nhiễm chất độc da cam; người khuyết tật. Mặt khác, Luật không quy định điều kiện "có khó khăn về tài chính" mà quy định trực tiếp là: Người thuộc hộ cận nghèo; người được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng là người cao tuổi, người bị bạo lực trong việc bạo lực gia đình, người nhiễm HIV...