
LỜI TÒA SOẠN
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí động lực quan trọng của phát triển đất nước. Nhưng từ một chủ trương lớn đến đời sống ở một xã miền núi còn là quãng đường dài, nơi hiệu quả của chuyển đổi số không chỉ được đo bằng số phần mềm được triển khai hay bao nhiêu tài khoản được kích hoạt, mà bằng những thay đổi cụ thể trong cách chính quyền phục vụ, người dân tiếp cận dịch vụ và cộng đồng tổ chức sinh kế.
Tại xã Cổ Lũng, tỉnh Thanh Hóa, địa bàn có hơn 99% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, quá trình ấy đang diễn ra từ nhiều hướng. Cán bộ đưa dịch vụ công xuống thôn bản; người dân làm quen với VNeID và các tiện ích số; sản phẩm vịt Cổ Lũng bước từ chợ truyền thống lên các phiên livestream; công nghệ được sử dụng để quảng bá du lịch cộng đồng trong không gian Pù Luông. Cùng với những kết quả bước đầu là những khoảng trống về hạ tầng, nhân lực và kỹ năng số mà chính địa phương cũng thẳng thắn nhìn nhận.
Qua loạt bài, Thể thao và Văn hóa ghi nhận cách Nghị quyết 57 được cụ thể hóa tại xã Cổ Lũng, từ bộ máy chính quyền tới dịch vụ công, sản xuất nông nghiệp và du lịch. Xuyên suốt tuyến bài là một câu hỏi: làm thế nào để công nghệ không dừng ở những chỉ tiêu hoàn thành, mà thực sự giúp người dân chủ động hơn, sản vật địa phương có thêm thị trường và những nguồn lực văn hóa, sinh thái của vùng đất được chuyển hóa thành giá trị phát triển bền vững?
KHI NGHỊ QUYẾT 57 VƯỢT DỐC VÀO BẢN
Với hơn 99% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn rộng, dân cư phân tán và khả năng tiếp cận công nghệ không đồng đều, Cổ Lũng không phải nơi có nhiều thuận lợi để bắt đầu chuyển đổi số. Nhưng cũng chính tại một xã miền núi còn nhiều khó khăn ấy, Nghị quyết 57 đang được cụ thể hóa bằng những việc gần nhất với đời sống: đưa thông tin xuống thôn, nâng kỹ năng số cho cán bộ, duy trì Tổ công nghệ số cộng đồng và kiên trì hướng dẫn người dân sử dụng những tiện ích mới.
Con đường dẫn vào xã Cổ Lũng uốn theo các sườn núi, đi qua những khu dân cư nằm rải rác giữa thung lũng và triền đồi. Khoảng cách địa lý là điều dễ nhận thấy, nhưng phía sau nó còn một khoảng cách khó đo hơn: khả năng tiếp cận công nghệ giữa các nhóm dân cư không giống nhau, đặc biệt giữa lớp trẻ đã quen với smartphone và những người cao tuổi vẫn chủ yếu sử dụng điện thoại cho nhu cầu nghe, gọi.

Tại trụ sở UBND xã, bên cạnh những tập hồ sơ giấy quen thuộc là hệ thống quản lý văn bản, chữ ký số, các nền tảng dịch vụ công và thiết bị phục vụ hội nghị trực tuyến. Công nghệ đã trở thành một phần trong công việc hằng ngày của cán bộ, nhưng từ trụ sở xã tới một hộ dân ở thôn xa vẫn còn một quãng đường đáng kể. Chính quãng đường ấy cho thấy Nghị quyết 57 khi xuống cơ sở không thể chỉ được triển khai bằng văn bản hay phần mềm.
Trao đổi với phóng viên Thể thao và Văn hóa, ông Hà Khắc Diệp, Phó Chủ tịch UBND xã Cổ Lũng cho biết, hơn 99% dân số của xã là đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó người Thái chiếm khoảng 95%. Địa bàn rộng, dân cư phân bố thưa và không đồng đều, trong khi trình độ học vấn cũng như khả năng tiếp cận khoa học, công nghệ của một bộ phận người dân còn hạn chế.
“Với điều kiện như Cổ Lũng, chuyển đổi số không thể chỉ làm ở trụ sở. Muốn bà con tiếp cận được thì cán bộ phải xuống cơ sở, phải hướng dẫn nhiều lần. Có những trường hợp phải ‘cầm tay chỉ việc’ cho tới khi người dân thực hiện được”, ông Diệp nói.

Từ nghị quyết tới những việc phải làm ở cấp xã
Theo Báo cáo số 483/BC-UBND ngày 11/9/2026 của UBND xã Cổ Lũng, trong 9 tháng đầu năm địa phương đã ban hành 22 văn bản chỉ đạo, điều hành liên quan tới khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính và Đề án 06. Ban Chỉ đạo phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 được kiện toàn, nhiệm vụ được phân công tới các bộ phận chuyên môn, Công an xã, Trạm Y tế, trường học và trưởng các thôn.
Cùng với đó là Kế hoạch số 45/KH-UBND về chuyển đổi số năm 2026, các kế hoạch rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính, làm sạch dữ liệu đất đai, hộ tịch, dân cư và nâng cao năng lực cho Tổ công nghệ số cộng đồng. Những văn bản ấy tạo ra khung tổ chức để một nghị quyết ở tầm quốc gia được chuyển thành công việc hằng ngày của chính quyền cơ sở.

Tuy nhiên, phần khó không nằm ở việc có bao nhiêu kế hoạch. Với một địa bàn miền núi, mỗi chỉ tiêu đều phải đi qua những điều kiện thực tế về hạ tầng, dân cư và kỹ năng. Một tài khoản định danh điện tử có thể được kích hoạt trong một buổi nhưng để người dân hiểu cách sử dụng và biết bảo vệ thông tin cá nhân cần nhiều thời gian hơn; một hồ sơ có thể được cán bộ hỗ trợ nộp trực tuyến, nhưng để chủ hồ sơ tự làm được ở lần sau lại là một thước đo khác.
Ông Hà Khắc Diệp cho rằng đó là lý do địa phương đặt yêu cầu phục vụ người dân lên trước những con số đơn thuần. “Chúng tôi quán triệt cán bộ, công chức phải nhiệt tình hướng dẫn, không gây phiền hà. Có những công việc phải làm ngoài giờ hành chính, kể cả thứ Bảy, Chủ nhật, mới phù hợp với thời gian sinh hoạt của bà con và hoàn thành được nhiệm vụ”, ông nói.
Đưa thông tin tới nơi người dân đang sống
Một trong những nhiệm vụ được Cổ Lũng tập trung triển khai là tuyên truyền và nâng cao nhận thức. Trong 9 tháng năm 2026, nội dung về chuyển đổi số, Đề án 06 và kỹ năng số được lồng ghép tại 22 hội nghị ở các thôn thông qua họp dân, sinh hoạt chi bộ và hoạt động của các đoàn thể. Hơn 150 lượt tin, bài được phát trên hệ thống truyền thanh cơ sở, tập trung vào các nội dung như cài đặt VNeID, nộp hồ sơ dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt và phòng, chống lừa đảo trên không gian mạng.
Trên môi trường số, trang thông tin điện tử, Zalo Official Account và Facebook của các đơn vị cũng được sử dụng để cung cấp hướng dẫn. Việc triển khai cùng lúc nhiều kênh phản ánh một thực tế khá rõ: không có một phương thức truyền thông nào phù hợp với tất cả người dân. Người trẻ có thể nhanh chóng tiếp nhận một infographic trên điện thoại, trong khi với nhiều người cao tuổi, thông tin qua loa truyền thanh, họp thôn hoặc sự hướng dẫn trực tiếp vẫn dễ tiếp cận hơn.

Đây cũng là lý do vai trò của các Tổ công nghệ số cộng đồng trở nên quan trọng. Tại thôn, thành viên tổ vừa là người chuyển thông tin, vừa là người trực tiếp giúp dân thực hiện những thao tác mà họ chưa quen, từ tạo tài khoản dịch vụ công đến sử dụng các tiện ích số trong y tế, giáo dục và thanh toán. Chính quyền cấp xã khó có thể thường xuyên có mặt ở mọi khu dân cư; lực lượng tại chỗ trở thành cầu nối để những hướng dẫn trên giấy chuyển thành thao tác thực tế.
“Địa bàn rộng, dân cư không tập trung nên không thể nghĩ chỉ tổ chức một cuộc tuyên truyền là bà con sẽ hiểu hết. Có việc phải nhắc lại, hướng dẫn lại nhiều lần”, ông Diệp nói. Theo ông, với người cao tuổi hoặc những trường hợp ít tiếp xúc với điện thoại thông minh, quá trình làm quen càng cần sự kiên trì.
Nhìn từ đó, chuyển đổi số ở Cổ Lũng không diễn ra theo một đường thẳng. Hệ thống có thể triển khai nhanh hơn kỹ năng của người sử dụng, vì vậy chính quyền phải vừa hoàn thiện hạ tầng, vừa bù đắp khoảng cách về năng lực.

“Bình dân học vụ số” phải bắt đầu từ người hướng dẫn
Cổ Lũng triển khai phong trào “Bình dân học vụ số” với mục tiêu giúp người dân có những kỹ năng cơ bản cần thiết trong môi trường số. Nếu trước đây “bình dân học vụ” gắn với phổ cập chữ viết, thì trong bối cảnh mới, yêu cầu là để người dân không bị đứng ngoài khi ngày càng nhiều dịch vụ thiết yếu được chuyển lên điện thoại và môi trường trực tuyến.
Nhưng để hướng dẫn người dân, cán bộ phải học trước. Báo cáo của xã cho biết 100% cán bộ, công chức được phổ biến các quy định mới về chuyển đổi số; khoảng 58% đã hoàn thành các khóa bồi dưỡng kỹ năng số trên nền tảng trực tuyến tại thời điểm lập báo cáo. Con số này đồng thời cho thấy quá trình đào tạo chưa hoàn tất và chính đội ngũ thực thi cũng phải liên tục cập nhật.

Điều đó đặc biệt quan trọng ở cấp xã, nơi cán bộ thường là người đầu tiên người dân tìm tới khi gặp vướng mắc. Nếu chính người hướng dẫn chưa đủ hiểu hệ thống, công nghệ rất dễ trở thành một tầng thủ tục mới thay vì công cụ giảm thủ tục. Ngược lại, khi cán bộ nắm được quy trình và có khả năng giải thích bằng ngôn ngữ gần gũi, những khái niệm như định danh điện tử hay dịch vụ công trực tuyến mới bớt xa lạ.
Từ 316 triệu đồng tới câu hỏi về năng lực lâu dài
Năm 2026, xã Cổ Lũng được giao 316 triệu đồng cho các nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo Báo cáo của xã, đến hết tháng 8 địa phương đã giải ngân 256 triệu đồng, đạt khoảng 81,01%.
Trong đó, 112 triệu đồng được bố trí cho hệ thống tường lửa S-GATE, thiết bị truyền hình hội nghị trực tuyến, dịch vụ vận hành và bảo trì các ứng dụng công nghệ thông tin. Các khoản khác phục vụ ứng dụng công nghệ thông tin trong lãnh đạo, điều hành, sửa chữa hệ thống camera an ninh và triển khai kích hoạt định danh điện tử. Ngoài ra, 66 triệu đồng hỗ trợ 22 Tổ công nghệ số cộng đồng tại 22 thôn cũ đã được giải ngân đầy đủ.

Nhìn ở quy mô đầu tư, đây không phải nguồn lực lớn. Nhưng với một xã miền núi, điều quan trọng không chỉ nằm ở số tiền được giải ngân mà ở năng lực được tạo ra sau đầu tư. Một thiết bị có thể mua trong một lần, song kỹ năng sử dụng dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin và khả năng hỗ trợ người dân phải được tích lũy thường xuyên.
“Một tài khoản được kích hoạt chưa đồng nghĩa một người sử dụng thành thạo; một hồ sơ được nộp trực tuyến nhưng nếu phần lớn thao tác vẫn do cán bộ làm hộ thì khả năng tự chủ của người dân chưa thực sự hình thành”, ông Diệp nói. “Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu, hỗ trợ trực tiếp là cần thiết. Điều đáng quan tâm là sau mỗi lần được hướng dẫn, người dân có tiến thêm một bước để tự thực hiện hay không”.
Ở Cổ Lũng, Nghị quyết 57 vì thế không phải câu chuyện của một mùa báo cáo. Nó được đo bằng những thay đổi nhỏ nhưng cụ thể: người dân bớt phải đi lại, cán bộ xử lý công việc nhanh hơn, dữ liệu đã có được tái sử dụng thay vì yêu cầu giấy tờ nhiều lần, và mỗi ngày có thêm người biết tự làm một việc trên điện thoại mà trước đây phải nhờ người khác.