Đánh giá về khả năng chống chịu của nền kinh tế, các giải pháp và động lực cho tăng trưởng hai con số năm 2026; nguyên nhân và bài học kinh nghiệm phát triển hạ tầng giao thông đạt và vượt mục tiêu đề ra... là những nội dung báo giới quan tâm đặt câu hỏi với đại diện Bộ Tài chính và Bộ Xây dựng tại Họp báo Chính phủ thường kỳ diễn ra chiều 8/1.
Nhiều nhóm giải pháp để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số
Trả lời về khả năng chống chịu của nền kinh tế trong năm 2026, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi cho biết, giai đoạn 2021–2025, bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước diễn biến hết sức phức tạp, khó khăn gia tăng, các yếu tố rủi ro xuất hiện dồn dập và khó lường. Đại dịch COVID-19 bùng phát đã gây ra những tác động nghiêm trọng, chưa từng có tiền lệ đối với kinh tế - xã hội của Việt Nam cũng như toàn cầu. Bên cạnh đó, cạnh tranh chiến lược và xung đột địa chính trị giữa các nước lớn diễn ra ngày càng gay gắt, làm thay đổi sâu sắc trật tự kinh tế, thương mại quốc tế. Các chính sách thuế đối ứng của Chính phủ Hoa Kỳ tác động mạnh đến kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, một nền kinh tế có độ mở lớn.
Trong bối cảnh đó, nền kinh tế Việt Nam đã chứng tỏ năng lực chống chịu vững vàng trước các cú sốc bên ngoài, vượt qua nhiều bất lợi và vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng ở mức cao, thuộc nhóm dẫn đầu thế giới. Việt Nam tiếp tục duy trì xếp hạng tín nhiệm quốc gia ở mức BB+ và Ba2 với triển vọng ổn định theo đánh giá của Fitch, S&P và Moody's. Các tổ chức quốc tế đều ghi nhận và đánh giá cao kết quả chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, cũng như triển vọng tăng trưởng và khả năng nâng hạng tín nhiệm của Việt Nam trong thời gian tới.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi trả lời câu hỏi của phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí. Ảnh: Minh Đức - TTXVN
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đánh giá Việt Nam nằm trong top 10 nền kinh tế tăng trưởng cao nhất thế giới. Ngân hàng Standard Chartered dự báo Việt Nam thuộc nhóm 5 quốc gia tăng trưởng nhanh nhất châu Á. Ngân hàng Thế giới (World Bank) cũng xếp Việt Nam vào 21 nền kinh tế có thành tích nổi bật trong năm 2025.
Những đánh giá tích cực từ các tổ chức tài chính và xếp hạng quốc tế uy tín cho thấy nền tảng kinh tế vĩ mô của Việt Nam tiếp tục được giữ vững và ổn định. Đây chính là yếu tố then chốt, tạo niềm tin cho người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư trong việc tìm kiếm cơ hội đầu tư, mở rộng sản xuất - kinh doanh, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Nêu 8 điểm nổi bật, cụ thể của nền kinh tế, Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi cũng thông tin về các nhóm giải pháp được thực hiện để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 và những năm tiếp theo. Theo đó, Chính phủ sẽ tập trung củng cố và nâng cao hiệu quả các động lực tăng trưởng truyền thống, đồng thời tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ, phát huy các động lực tăng trưởng mới.
Năm nội dung trọng tâm được lãnh đạo Bộ Tài chính nêu ra. Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, đổi mới tư duy xây dựng, thực thi pháp luật nhằm kiến tạo và phát triển, giải quyết các điểm nghẽn về thể chế và xây dựng thể chế để tạo động lực, chuyển từ quản lý sang kiến tạo để thúc đẩy.
Thứ hai, huy động, phân bổ, sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Sử dụng nguồn lực đầu tư công có hiệu quả, giữ vững vai trò dẫn dắt; nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài; phát triển đồng bộ các loại thị trường, nhất là thị trường vốn, thị trường tài chính nhằm đa dạng hóa các kênh huy động vốn trung và dài hạn. Nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực cho nền kinh tế, tái cấu trúc các kênh huy động vốn và nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, đặc biệt là trong các khu vực sản xuất.
Thứ ba, chuyển đổi mạnh mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phát huy vai trò động lực của công nghiệp chế biến, chế tạo. Chuyển dịch sang nền kinh tế dựa vào cả đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn đào tạo với nhu cầu của thị trường và yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Khu vực ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,28%. Ảnh: Tuấn Anh - TTXVN
Thứ tư, phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực then chốt, các dự án lớn, các chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu theo đúng tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Thứ năm, phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng chiến lược để làm nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Tập trung đầu tư hạ tầng giao thông, logistics, hạ tầng số, hạ tầng năng lượng, bảo đảm an ninh năng lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới.
“Với sự chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ, cùng việc triển khai hiệu quả các giải pháp trọng tâm, chúng tôi hoàn toàn tin tưởng rằng các mục tiêu tăng trưởng đã đề ra là có cơ sở và có thể đạt được”, Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi nói.
Ban hành nhiều cơ chế đặc thù
Liên quan đến phát triển hạ tầng giao thông, Chánh Văn phòng, Người phát ngôn Bộ Xây dựng Nguyễn Trí Đức cho biết, Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định việc phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại là một trong ba đột phá chiến lược. Trong đó tập trung đầu tư vào các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, có tính lan tỏa, kết nối vùng, nhất là mục tiêu cơ bản hoàn thành cao tốc Bắc – Nam phía Đông từ Cao Bằng đến Cà Mau. Giai đoạn 2021-2025, Quốc hội, Chính phủ đã dành nguồn lực rất lớn cho kết cấu hạ tầng giao thông trong cả 5 lĩnh vực: Đường bộ, hàng không, đường sắt, đường thủy nội địa và hàng hải. Chính phủ cũng đã ban hành đồng bộ các nghị quyết và chương trình hành động, đặt ra mục tiêu phấn đấu hết năm 2025 cả nước có khoảng 3.000 km đường bộ cao tốc.

Đoạn tuyến trên cao tốc Vân Phong - Nha Trang. Ảnh: Quốc Khánh - TTXVN
Theo ông Đức, trong quá trình triển khai 5 năm qua, đặc biệt là đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông, gặp rất nhiều khó khăn, thách thức bởi các "điểm nghẽn" về thể chế, công tác giải phóng mặt bằng kéo dài, khó khăn về nguồn vật liệu, giá cả vật liệu tăng cao...
Để khắc phục những khó khăn, vướng mắc trên, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế đặc thù; triển khai đồng bộ các giải pháp; giao địa phương làm cơ quan chủ quản các dự án thành phần như giải phóng mặt bằng, chỉ định thầu, giao mỏ trực tiếp cho các nhà thầu, nâng công suất mỏ. Sự quan tâm của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, sự vào cuộc mạnh mẽ của tất cả các bộ, ngành, các cấp chính quyền địa phương, những khó khăn, vướng mắc đã được giải quyết kịp thời. Qua đó, tạo ra tiền đề hết sức quan trọng để các chủ đầu tư, nhà thầu quyết tâm, nỗ lực triển khai thi công.
Sau 5 năm của nhiệm kỳ 2021-2025 đã hoàn thành thông xe 2.182 km đường bộ cao tốc. Đến hết năm 2025, cả nước đưa vào khai thác khoảng 3.345 km tuyến chính cao tốc và 458 km nút giao và đường dẫn để kết nối các hệ thống cao tốc này với quốc lộ, hệ thống giao thông của địa phương, vượt chỉ tiêu Chính phủ đặt ra; hoàn thành thông xe toàn tuyến cao tốc Bắc - Nam từ Cao Bằng đến Cà Mau theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng.
“Khi thể chế được khơi thông, các chính sách linh hoạt, nguồn lực huy động đúng hướng, phát huy được sức mạnh tổng hợp cả hệ thống chính trị, các tổ chức đoàn thể, sự đồng lòng của người dân, khơi dậy phong trào thi đua yêu nước, lòng tự hào dân tộc, chúng tôi tin tưởng rằng các dự án giao thông xây dựng sẽ tiếp tục là động lực để tăng trưởng mạnh mẽ, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng trong thời gian tới”, ông Đức cho hay.
