(TT&VH) - Tôi đến với kho cổ vật của cụ với một “âm mưu” khác. Đó là tìm vật dụng bình thường nhưng là những chứng tích của văn hóa Việt một thời đã qua.
Di sản lâu đời bậc nhất của văn hóa Việt
Bước chân vào khuôn viên cụ Phan (Hồ Tấn Phan ở nhà số 5/28 đường Cao Bá Quát, TP Huế), điều ngạc nhiên nhất đối với tôi, người đã có thâm niên trong nghề khảo cổ học, là sao cụ để cổ vật bừa bãi đến thế? Cả một khu vườn rộng xếp la liệt các đồ cổ sưu tầm được trong mấy chục năm, dầm mưa dãi nắng. Từ những chiếc cối đá, bình cổ cho đến cả máy quạt thóc, guồng đạp nước bằng gỗ hay cả những cái cốt làm mũ cát bằng xi măng mà thoạt nhìn cứ tưởng cái Linga bằng đá của người Chăm. Trên tường nhà, cụ dựng biết bao kệ gỗ xếp đầy bình vò, gốm sứ, nồi đồng, nồi đất. Tấm phản cụ nằm bên cạnh chồng sách là cả một giá gỗ chứa các ống nhổ bằng gốm cổ. Có lẽ cụ có niềm đam mê ngắm nhìn cổ vật ngay cả khi ngả lưng trên tấm phản, vắt chân chữ ngũ rung đùi ngắm những đồ vật yêu quý đã dày công sưu tầm mấy chục năm nay.
Di sản lâu đời bậc nhất của văn hóa Việt
Bước chân vào khuôn viên cụ Phan (Hồ Tấn Phan ở nhà số 5/28 đường Cao Bá Quát, TP Huế), điều ngạc nhiên nhất đối với tôi, người đã có thâm niên trong nghề khảo cổ học, là sao cụ để cổ vật bừa bãi đến thế? Cả một khu vườn rộng xếp la liệt các đồ cổ sưu tầm được trong mấy chục năm, dầm mưa dãi nắng. Từ những chiếc cối đá, bình cổ cho đến cả máy quạt thóc, guồng đạp nước bằng gỗ hay cả những cái cốt làm mũ cát bằng xi măng mà thoạt nhìn cứ tưởng cái Linga bằng đá của người Chăm. Trên tường nhà, cụ dựng biết bao kệ gỗ xếp đầy bình vò, gốm sứ, nồi đồng, nồi đất. Tấm phản cụ nằm bên cạnh chồng sách là cả một giá gỗ chứa các ống nhổ bằng gốm cổ. Có lẽ cụ có niềm đam mê ngắm nhìn cổ vật ngay cả khi ngả lưng trên tấm phản, vắt chân chữ ngũ rung đùi ngắm những đồ vật yêu quý đã dày công sưu tầm mấy chục năm nay.
Cụ Hồ Tấn Phan (phải)
Thật ra, tôi không phải là người săn lùng đồ cổ, cũng không phải là chuyên gia trong việc giám định các cổ vật. Tôi đến với kho cổ vật của cụ với một “âm mưu” khác. Đó là tìm những chứng tích của đời thường mà ít người chú ý. Đi tìm những vật dụng bình thường nhưng là những chứng tích của văn hóa Việt một thời đã qua. Lần này, thật thú vị vì tôi đã tìm thấy nhiều thứ mà mới ngót ngét mấy chục năm nay thôi, những thứ ấy vẫn còn phổ biến, còn tồn tại trong đời sống của mọi gia đình Việt và nay đang nhanh chóng “tuyệt chủng”. Một trong số những vật dụng ấy chính là những cái ống nhổ mà các cụ nhà ta vẫn dùng khi ăn trầu.
Điều khiến tôi hết sức ngạc nhiên là trong chiếc tủ kính đặt giữa phòng khách và trên cái giá gỗ lớn dựng ngay đầu cỗ phản cụ nằm là cả một sưu tập đồ sộ hàng trăm cái ống nhổ khác nhau. Cái bằng đồng, bằng bạc, cái bằng gốm, bằng sứ, cái to, cái nhỏ muôn vàn kiểu dáng, kích thước, hoa văn trang trí khác nhau.
Tôi hỏi:
- Sao cụ sưu tầm nhiều ống nhổ thế?
Cụ cười:
- Chẳng hiểu sao tôi lại say mê cái thứ cổ vật này. Thoạt đầu thấy người ta mò được trong lòng thuyền dưới đáy sông những chiếc ống nhổ lạ, tò mò mua về và sau thấy chúng rất đẹp. Thế là tôi tìm cách sưu tầm khắp nơi với đủ loại khác nhau.
- Ống nhổ là một vật liên quan đến tục trầu cau. Bác sưu tầm bình vôi, cối giã trầu và ống nhổ là gìn giữ một trong những di sản lâu đời nhất của văn hóa Việt đấy - tôi bình luận.
Cụ cười đắc ý, rồi cụ khoe tôi các loại ống nhổ sang trọng và cả những ống nhổ bình dân to nhỏ đủ loại. Tôi vội chụp một số hình định bụng sau này sẽ dùng để dạy cho sinh viên văn hóa về lịch sử trầu cau.
Ăn trầu không hẳn là “lạc hậu”
Quả thực tục ăn trầu đã ăn sâu vào tâm thức văn hóa người Việt từ bao đời nay. Ông tôi, bà tôi ăn trầu, mẹ tôi thỉnh thoảng cũng có nhai vài miếng. Bố tôi nay đã ngoài 80 nhưng tôi chưa thấy ông ăn trầu bao giờ. Đến thế hệ chúng tôi thì chẳng còn ai ăn trầu nữa. Thuở bé, khi cụ tôi, bà tôi ăn trầu, lũ trẻ con chúng tôi vẫn phải hầu các cụ đi đổ bã trầu trong cái ống nhổ bằng đồng mà các cụ vẫn để bên. Bà tôi mỗi khi đi đâu đều mặc bộ áo dài gụ, thắt lưng bao sồi và đeo bộ xà tích bạc có cái chìa vôi, hộp vôi, hộp thuốc hình trái đào. Với lũ trẻ chúng tôi thì bộ xà tích ấy là một đồ trang sức rất thú vị. Cụ tôi mỗi lần ăn trầu lại sai thằng cháu đích tôn nghiền cau trong cái cối giã trầu bằng đồng nhỏ xíu.
Hồi ấy, nhà tôi có cái ống nhổ xinh xinh. Khi theo ông đi ăn cỗ ở nhà họ hàng, tôi thấy có nhà giàu sắm cả những cái ống nhổ miệng loe to như cái loa phóng thanh làm bằng đồng sáng loáng làm vật trang trí sang trọng. Người ta kể thuở xưa, khi quan lớn đi ăn cỗ thì lính hầu cắp tráp và ống nhổ đi theo hầu quan.
Kể từ thế hệ chúng tôi trở đi (nay đều ở cái tuổi lục tuần), thì ở cả thành thị và nông thôn, cái tục ăn trầu từ nghìn đời nay đã tự nhiên biến mất.
Mấy năm trước, có dịp qua thăm Myanmar, thật thú vị khi thấy đâu đâu cũng ăn trầu. Tay lái xe và phụ xe đưa tôi đi suốt mấy trăm cây số đường dài thỉnh thoảng lại rút túi trầu ra làm một miếng rất ngon lành. Trầu cau têm sẵn có cả vôi và thuốc lào bán khắp nơi từ thành thị đến nông thôn. Các nữ giáo sư tốt nghiệp ở Anh về đi cùng đoàn thỉnh thoảng cũng nhai trầu bỏm bẻm. Nghe nói dân Đài Loan (Trung Quốc) là những công dân tiêu thụ trầu cau nhiều nhất thế giới và cái tục ăn trầu này nó vẫn còn rất phổ biến ở một miền rộng lớn từ Ấn Độ đến tận châu Đại Dương...
Tôi cứ băn khoăn tự hỏi vì sao tục ăn trầu lại tự nhiên lu mờ ở xứ ta trong khi chính sách văn hóa của người Việt trong thời đại ngày nay là giữ gìn và phát huy nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc?
Vẫn cần những cái “ống nhổ”
Thay vì ăn trầu, các bạn trẻ ngày nay đã nhanh chóng học một kiểu bỏm bẻm mới. Ấy là bỏm bẻm singum (kẹo cao su). Có bạn trẻ bảo tôi: Ăn kẹo cao su cho thơm mồm, sạch răng. Chỉ có các cụ “khốt" mới ăn trầu. Ấy vậy mà trong nghi lễ cưới hỏi, nhà nào nhà ấy vẫn cứ sửa soạn mâm lễ những buồng cau đầy đặn, lá trầu xanh mướt dán đủ trang trí đỏ vàng đội lễ đến nhà gái làm lễ xin hỏi, dẫn cưới. Vào dự lễ hội, quan khách trong nước hay ngoại quốc thường được tiếp đãi bằng màn mời trầu với dân ca quan họ, nhưng chẳng có ai đưa miếng trầu cánh phượng vào mồm nhai bỏm bẻm cả.
Điều khiến tôi hết sức ngạc nhiên là trong chiếc tủ kính đặt giữa phòng khách và trên cái giá gỗ lớn dựng ngay đầu cỗ phản cụ nằm là cả một sưu tập đồ sộ hàng trăm cái ống nhổ khác nhau. Cái bằng đồng, bằng bạc, cái bằng gốm, bằng sứ, cái to, cái nhỏ muôn vàn kiểu dáng, kích thước, hoa văn trang trí khác nhau.
Tôi hỏi:
- Sao cụ sưu tầm nhiều ống nhổ thế?
Cụ cười:
- Chẳng hiểu sao tôi lại say mê cái thứ cổ vật này. Thoạt đầu thấy người ta mò được trong lòng thuyền dưới đáy sông những chiếc ống nhổ lạ, tò mò mua về và sau thấy chúng rất đẹp. Thế là tôi tìm cách sưu tầm khắp nơi với đủ loại khác nhau.
- Ống nhổ là một vật liên quan đến tục trầu cau. Bác sưu tầm bình vôi, cối giã trầu và ống nhổ là gìn giữ một trong những di sản lâu đời nhất của văn hóa Việt đấy - tôi bình luận.
Cụ cười đắc ý, rồi cụ khoe tôi các loại ống nhổ sang trọng và cả những ống nhổ bình dân to nhỏ đủ loại. Tôi vội chụp một số hình định bụng sau này sẽ dùng để dạy cho sinh viên văn hóa về lịch sử trầu cau.
Ăn trầu không hẳn là “lạc hậu”
Quả thực tục ăn trầu đã ăn sâu vào tâm thức văn hóa người Việt từ bao đời nay. Ông tôi, bà tôi ăn trầu, mẹ tôi thỉnh thoảng cũng có nhai vài miếng. Bố tôi nay đã ngoài 80 nhưng tôi chưa thấy ông ăn trầu bao giờ. Đến thế hệ chúng tôi thì chẳng còn ai ăn trầu nữa. Thuở bé, khi cụ tôi, bà tôi ăn trầu, lũ trẻ con chúng tôi vẫn phải hầu các cụ đi đổ bã trầu trong cái ống nhổ bằng đồng mà các cụ vẫn để bên. Bà tôi mỗi khi đi đâu đều mặc bộ áo dài gụ, thắt lưng bao sồi và đeo bộ xà tích bạc có cái chìa vôi, hộp vôi, hộp thuốc hình trái đào. Với lũ trẻ chúng tôi thì bộ xà tích ấy là một đồ trang sức rất thú vị. Cụ tôi mỗi lần ăn trầu lại sai thằng cháu đích tôn nghiền cau trong cái cối giã trầu bằng đồng nhỏ xíu.
Hồi ấy, nhà tôi có cái ống nhổ xinh xinh. Khi theo ông đi ăn cỗ ở nhà họ hàng, tôi thấy có nhà giàu sắm cả những cái ống nhổ miệng loe to như cái loa phóng thanh làm bằng đồng sáng loáng làm vật trang trí sang trọng. Người ta kể thuở xưa, khi quan lớn đi ăn cỗ thì lính hầu cắp tráp và ống nhổ đi theo hầu quan.
Kể từ thế hệ chúng tôi trở đi (nay đều ở cái tuổi lục tuần), thì ở cả thành thị và nông thôn, cái tục ăn trầu từ nghìn đời nay đã tự nhiên biến mất.
Mấy năm trước, có dịp qua thăm Myanmar, thật thú vị khi thấy đâu đâu cũng ăn trầu. Tay lái xe và phụ xe đưa tôi đi suốt mấy trăm cây số đường dài thỉnh thoảng lại rút túi trầu ra làm một miếng rất ngon lành. Trầu cau têm sẵn có cả vôi và thuốc lào bán khắp nơi từ thành thị đến nông thôn. Các nữ giáo sư tốt nghiệp ở Anh về đi cùng đoàn thỉnh thoảng cũng nhai trầu bỏm bẻm. Nghe nói dân Đài Loan (Trung Quốc) là những công dân tiêu thụ trầu cau nhiều nhất thế giới và cái tục ăn trầu này nó vẫn còn rất phổ biến ở một miền rộng lớn từ Ấn Độ đến tận châu Đại Dương...
Tôi cứ băn khoăn tự hỏi vì sao tục ăn trầu lại tự nhiên lu mờ ở xứ ta trong khi chính sách văn hóa của người Việt trong thời đại ngày nay là giữ gìn và phát huy nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc?
Vẫn cần những cái “ống nhổ”
Thay vì ăn trầu, các bạn trẻ ngày nay đã nhanh chóng học một kiểu bỏm bẻm mới. Ấy là bỏm bẻm singum (kẹo cao su). Có bạn trẻ bảo tôi: Ăn kẹo cao su cho thơm mồm, sạch răng. Chỉ có các cụ “khốt" mới ăn trầu. Ấy vậy mà trong nghi lễ cưới hỏi, nhà nào nhà ấy vẫn cứ sửa soạn mâm lễ những buồng cau đầy đặn, lá trầu xanh mướt dán đủ trang trí đỏ vàng đội lễ đến nhà gái làm lễ xin hỏi, dẫn cưới. Vào dự lễ hội, quan khách trong nước hay ngoại quốc thường được tiếp đãi bằng màn mời trầu với dân ca quan họ, nhưng chẳng có ai đưa miếng trầu cánh phượng vào mồm nhai bỏm bẻm cả.
Tác giả bài viết nâng niu những cái ống nhổ trong bộ sưu tập của cụ Phan
Nếu bạn để ý trong các rạp hát, ngoài đường phố, trong cửa hàng, hay thậm chí trong cả ghế ngồi trên xe buýt khắp nơi đầy những bã kẹo cao su, có người vô ý vào rạp chiếu phim ngồi phải đám bã kẹo dính be dính bét vào cả mông quần, ngượng chín người nhưng “vô phương cứu chữa”.
Đành rằng tập quán, lối sống có thể thay đổi. Bạn có thể ăn trầu hay ăn kẹo cao su tùy bạn nhưng cái bã trầu hay bã kẹo sau khi ăn xong cũng phải nhổ vào chỗ nào cho sạch sẽ chứ? Nhìn bộ ống nhổ mà cụ Phan dày công sưu tập, tôi chợt ngộ ra một điều: Thì ra cụ trân trọng cái giá trị văn hóa trong phong tục trầu cau và cái giá trị văn hóa ứng xử vệ sinh của bao đời nay mà bây giờ người ta đã quên mất. Ngẫm lời các cụ dạy, thì ra “phú quý giật lùi” cũng là thế.
Đến bao giờ mới có những cái “ống nhổ thời nay” cho các “thành phố lành mạnh” của chúng ta?
Đành rằng tập quán, lối sống có thể thay đổi. Bạn có thể ăn trầu hay ăn kẹo cao su tùy bạn nhưng cái bã trầu hay bã kẹo sau khi ăn xong cũng phải nhổ vào chỗ nào cho sạch sẽ chứ? Nhìn bộ ống nhổ mà cụ Phan dày công sưu tập, tôi chợt ngộ ra một điều: Thì ra cụ trân trọng cái giá trị văn hóa trong phong tục trầu cau và cái giá trị văn hóa ứng xử vệ sinh của bao đời nay mà bây giờ người ta đã quên mất. Ngẫm lời các cụ dạy, thì ra “phú quý giật lùi” cũng là thế.
Đến bao giờ mới có những cái “ống nhổ thời nay” cho các “thành phố lành mạnh” của chúng ta?
Vũ Thế Long (TS khảo cổ học)