>> Chuyên đề: "Hiện tượng" Cánh đồng bất tận
(+): Bộ phim có một khởi đầu rất tốt, rất điện ảnh. Hải Yến diễn rất tốt ở các cảnh này, có cảm giác nỗi sợ của nhân vật cũng chính là nỗi sợ của chính cô, khi bị một đám đàn bà lao vào chửi bới, tấn công theo kiểu bầy đàn. Dựng phim của đoạn dẫn phim cũng khá tốt, tạo được kịch tính.
(-): Nhưng qua khoảng 30 phút phim đầu tạo được điểm nhấn, kết cấu chặt chẽ và cảm xúc, thì có cảm giác đạo diễn mất phương hướng, phim bị kéo lê đi, dàn trải và không tạo được tiết tấu như ban đầu. Cảm xúc cũng rơi dần, bởi cảm xúc giả của đoạn cuối.(+) & (-): Chất liệu của phim từ truyện của Nguyễn Ngọc Tư quá tốt để chuyển thể, plot mạnh và dàn diễn viên đồng đều, tay nghề cao. Có đủ chất liệu để làm được một bộ phim hay, nhưng cuối cùng lại không hay như mong muốn.
Hai vai diễn của diễn viên phụ: Nương và Điền rất cảm xúc, cái giọng kể thổn thức, phiền muộn của Nương và cái cách thể hiện cảm xúc bản năng của Điền trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư được hai diễn viên trẻ diễn tốt, cảm xúc. Nhưng cái cách diễn kiểu hơi lấy lòng thương, hơi câu nước mắt, hơi sân khấu.
(+) & (-): Mối quan hệ giữa Út Võ và Sương gợi nhớ đến La Strada của Federico Fellini. Cũng là mối quan hệ của hai kẻ sống trôi dạt, giữa một gã đàn ông vô cảm, thô lỗ, cộc cằn và một người đàn bà khao khát sự yêu thương nhưng không được đáp lại. Dustin Nguyễn diễn tốt đến gần hết phim. Cái vẻ uất ức cố che giấu đằng sau sự lạnh lùng vô cảm được Dustin diễn rất tốt, cho đến khi đạo diễn bắt anh ngửa mặt lên trời và hét “Trời ơi” hay đoạn kết bị lạc tông. Một kẻ như Út Võ có cần phải “hướng thiện” theo cách làm anh chèo đò đưa trẻ em sang sông đi học?
(+) Đỗ Hải Yến diễn xuất sắc trong đoạn đầu, đoạn ngồi quây quần ăn cơm và bị Út Võ ném tiền xuống bàn. Sau những vun vén, hi vọng, cái hành động của Út Võ giết chết những ảo tưởng trước đó của Sương. Nụ cười nghẹn ngào, đôi mắt có nước và câu thoại “Ba mấy cưng xộp ghê” được Yến diễn rất tốt. Đoạn diễn tốt thứ ba của Yến là cảnh cô Sương ra đi. Lần này thì không cố cười trong nước mắt cố giấu nữa mà tức tưởi, nghẹn ngào, tan nát. Chỉ tiếc đoạn dựng tiếp theo phá vỡ cảm xúc quá nhanh. Cảnh cô Sương ra đi giữa cánh đồng (đay) bát ngát đáng ra phải được nhấn nhá lâu hơn, cho cái bóng của cô khuất dần rồi biến thành một chấm nhỏ giữa cánh đồng không bờ bến, thì hiệu quả điện ảnh sẽ tốt hơn nhiều.
(-) Nhưng Yến trong nhiều khuôn hình khác thì bị thừa hoặc “chết”. Cái này phần lớn do chỉ đạo diễn xuất của đạo diễn? Có cần thiết phải để nhân vật xuất hiện trong những cảnh không cần thiết, để rồi có cảm giác nhân vật thừa thãi, và phải cố bằng cách “vuốt tóc, thể hiện sự yêu thương với Nương và Điền” một cách rất kịch?
(-) Dù có một số sáng tạo, phim vẫn tạo cho người xem cảm giác là minh họa cốt truyện nhiều hơn là tạo được biểu tượng điện ảnh (điều mà Nguyễn Võ Nghiêm Minh làm rất tốt trong Mùa len trâu). Như đã nói ở đoạn trên, sau 30 phút vào phim rất tốt, đoạn tiếp theo, đạo diễn “kéo lê” bộ phim đi một cách mất định hướng. Tình tiết và cảm xúc rất rời rạc, chắp nối. Và càng đến cuối thì cảm giác “giả” xuất hiện với những cảnh bạo lực nhưng không có cảm giác dữ dội, cái ác không thật và sự đau thương không chạm được tận cùng cảm xúc như Nguyễn Ngọc Tư đã làm trong truyện.

Cánh đồng bất tận (CĐBT) đẹp theo đúng kiểu của nhiếp ảnh, của postcard, kiểu video clip như Hạt mưa rơi bao lâu hay Mê Thảo Thời vang bóng đã từng.
Hai bộ phim điện ảnh Việt tạo được biểu tượng điện ảnh mà tôi thích nhất trong khoảng 10 năm qua là Mùa len trâu của Nguyễn Võ Nghiêm Minh và Trăng nơi đáy giếng của Nguyễn Vinh Sơn. Trong Mùa len trâu là “nước” và trong Trăng nơi đáy giếng là “tín ngưỡng tâm linh”.
CĐBT của điện ảnh không tạo được cảm giác của CĐBT trong văn chương của Nguyễn Ngọc Tư. Bối cảnh phim đẹp nhưng cảm giác nhỏ và chật. Cái lạch nước mà Sương chèo thuyền qua để ra đi nó nhỏ và hẹp đến tội nghiệp, cảm giác quảy ba tay chèo là đến bờ bên kia, trong khi người xem rất cần một cảm giác đơn độc của một người đàn bà giữa mênh mông biển nước..., có thế cái nhan đề tiếng Anh Floating Lives mới hợp với chủ đề và không khí của bộ phim: đó là những kiếp người sống trôi dạt…
Nói tóm lại, xem CĐBT điện ảnh, thấy tình yêu nghề của tất cả ê-kíp, một tình yêu hết mình và hồn nhiên, nhưng nó chưa tạo được sự kết tinh như nó đáng phải có. Điện ảnh cần những người dấn thân và đam mê như thế, nhưng cái quan trọng nhất vẫn là tài năng.
|
"Độc quyền chân lý"? Trong buổi Cà phê điện ảnh diễn ra tại Cà phê Thứ Bảy sáng ngày 23/10 với nhân vật chính là hai đạo diễn trẻ Phanxine và Roland Nguyễn, có một vấn đề tranh luận nho nhỏ nhưng rất thú vị đã được đặt ra: Tại sao có người không thể xem hết Mùi đu đủ xanh (Trần Anh Hùng), nhưng có người lại vô cùng cảm động? Điều gì khiến sự cảm nhận của khán giả về một bộ phim rất khác nhau, thậm chí trái ngược? Nhạc sĩ Dương Thụ là một trong những người tham gia sôi nổi chủ đề này. Những ý kiến khen chê trái ngược nhau cũng là lẽ tự nhiên. Sự cảm thụ của mỗi người phụ thuộc vào trình độ, sở thích, tính tình và cái người ta gọi là “gu” (hoặc theo các nhà mỹ học gọi là năng lực thẩm mỹ). Nhưng phần cũng rất quan trọng là vốn sống, tức là sự trải nghiệm. Sự khác nhau của những điều kể trên, nhất là sự chênh lệch về trình độ chuyên môn, mặt bằng văn hóa và sự trải nghiệm không đảm bảo cho sự đồng nhất khi thưởng thức và phê bình nghệ thuật. Tuy vậy nghệ thuật vẫn có chuẩn. Những chuẩn mực ấy phải học mới biết. Mỗi người có một cách học để tự nhận biết, bằng không phải dựa vào ý kiến đánh giá của các bậc thầy. Biết “dựa dẫm” vào các bậc thầy, dần dà rồi cũng “ngộ” ra được. Ý kiến trái ngược nhau không phải là vấn đề. Vấn đề ở chỗ không ai lắng nghe ai, ai cũng coi sự khen chê của mình là đúng đắn là thông minh, người nói ngược với mình là sai trái, là dốt nát. Cái thói quen “độc quyền chân lý” ấy xuất phát từ chất “văn hóa tiểu nông” nặng mùi đã làm hỏng tất cả. Tôi thấy nhiều người rất thích phim CĐBT, nếu thích thật lòng chứ không “thích phong trào” thế thì được quá. Còn tôi, tôi chưa thích vì cảm thấy hình như bối cảnh phim và câu chuyện kể nó trái ngược nhau. Tôi bị phân tán bởi những cảnh quay quá đẹp, bởi nhạc phim hấp dẫn. Và có phần mất tập trung vì thấy nó hơi giả tạo nguyên do diễn xuất theo kiểu “nông dân đường nhựa” của khá nhiều nhân vật trong phim… Còn phim Đừng đốt khi xem tôi khóc suốt, nhưng cô bạn tôi lại khá dửng dưng. Chẳng có ai đúng ai sai trong này cả, đơn giản mỗi phim có một loại công chúng riêng. Có phim dành cho công chúng đông dảo, có phim dành cho công chúng số ít. Có phim ai cũng thấy hay, có phim chỉ có một số người thấy hay và loại phim này chưa hẳn đã kém giá trị hơn loại phim kia và ngược lại. Nhạc sĩ Dương Thụ |