Một chuyến đi

Cái giá của sự hoang sơ…

29/04/2009 17:48 GMT+7 Google News
(Bài dự thi) - 1. Tôi sinh ra ở miền rừng, làm báo, 15 năm qua, ngày nào đối với tôi cũng là ngày sắp xếp cho những chuyến đi. Nhưng, dường như chuyến đi vào cực Tây tổ quốc ngày đó, là chuyến đi mà ông Trời đã sắp đặt cho số phận tôi. Chuyến đi làm thay đổi tôi quá nhiều. Đôi lúc, tôi đã nghĩ, 14 ngày lội rừng ấy thật ra là một cơn mơ lạ lùng nhất mà tôi từng gặp.
 
Mẹ của Sừng Sừng Khai, đã gần 70 tuổi nghiện thuốc phiện nặng. Anh Khai đang
 là Phó Chủ tịch UBND xã, anh dũng cảm đưa mẹ ra đồn biên phòng, “nhốt” mẹ lại,
yêu cầu các anh bộ đội cứ “thẳng tay” cai. Vừa “nhốt” mẹ, Khai vừa sụt sịt khóc:
mẹ tha thứ cho con. Bà cụ giờ đã quên hẳn “nàng tiên nâu”. Nhờ tấm
 gương đó, người Sín Thầu, Chung Chải (2 xã ngã ba biên giới)
nô nức đi… cai nghiện
 
Lỳ Phì Pa, cô gái Hà Nhì kiều diễm ở vùng ngã ba biên giới
 
Tình cờ, một lần vào Mường Tè (tỉnh Lai Châu), ông cụ già ấy ngồi uống rượu với tôi, rồi ông nôn nao kể về những ngày ông liều mình cưỡi ngựa vào ngã ba biên giới. Ở đó, đàn hổ đã ăn thịt mất con tuấn mã tuyệt đẹp của ông. Ở đó có khe Hai Bà Cháu ngay trước cửa đồn biên phòng 409 Leng Su Sìn, nơi có hai bà cháu cùng bị hổ ăn thịt. Ở đó có dốc Mai Lình, nơi ông Mai Lình (nay vẫn sống) đã kịch chiến với con gấu hoang khổng lồ rồi chiến thắng. Ở đó có quả đồi ông Bôn, mang tên anh hùng giáo dục đầu tiên của Việt Nam, nhà giáo Nguyễn Văn Bôn (nay đang sống ở Hải Phòng). Ở đó, có đồn biên phòng hiếm hoi (tôi nghĩ là duy nhất) ở Việt Nam có dựng tượng đồng đội mình, rồi lập bát nhang tưởng nhớ. Người được dựng tượng là liệt sỹ công an vũ trang đầu tiên của Việt Nam, anh Trần Văn Thọ. Anh Thọ đang mang tên một ngọn núi thiêng, ông đã được bà con tôn thờ, vì ông đã cống hiến đến hơi thở cuối cùng cho biên cương này. Sách giáo khoa của nước ta, một thời có dạy về ông Bôn và ông Thọ.
 
Cảm động đến rơi nước mắt, cả bản làng tiễn chúng tôi xuống núi.
Đi cả buổi sáng họ chưa có ý định quay lại… nhà mình
 
Trong lần đầu đi bộ 14 ngày chinh phục vùng đất hoang sơ và kỳ thú A Pa Chải,
 2 công an viên xã Chung Chải đã xách súng đưa đường cho tôi suốt nhiều
ngày qua các dải rừng hoang. (Người giữa là anh Lỳ Hà Xá, người có
bố vợ bị gấu tát chết trước khi chúng tôi có mặt ít ngày
Ông già thở dài, một vùng núi rừng hoang rậm, cái gì cũng giữ kỷ lục ở nước mình, nhưng đường đến đó cực kỳ khó khăn. Từ nay đến cuối đời, chắc chắn ông không thể “trẻ hóa” lại để mà đến thăm một lần nào nữa. Ông không quên ngăn cản tôi không nên dấn thân vào đó, khi chưa thật sự sẵn sàng làm các việc sau đây: sức khỏe ổn định, luyện tập leo cầu thang nhà cao tầng cho quen chân, mua bản đồ nghiên cứu địa hình A Pa Chải, đặt các mối quan hệ xin phép lực lượng bảo vệ vùng biên, tìm người dẫn đường thật chu đáo.
 
Bà con Hà Nhì ở Đoàn Kết có tục ăn đất. Họ ăn đất như ăn kẹo, ăn quanh năm. Bà vợ ông
Phó Chủ tịch UBND xã Lỳ Gió Cà cầm miếng đất ăn, ở miệng cái hang sâu hun hút do
bà con bới đất ăn mà thành! Đây là chi tiết đầu tiên, để sau này, tôi có viết nhiều bài,
phối hợp tổ chức một hội thảo quốc tế và phối hợp thực hiện chương trình Chuyện lạ Việt Nam
(cho Truyền hình Việt Nam) về tục ăn đất ở nhiều cộng đồng người trên đất Việt Nam
 
Hành trình 14 ngày của tôi có đủ lực lượng đưa đường ở từng cung đường một, có khi là
biên phòng, công an, có khi là một thiếu nữ, một con ngựa. Trong ảnh là ông Páo,
trưởng công an xã Mường Nhé giúp tôi vượt qua chặng gian khổ đầu tiên
 
2. Sau 700km xuất phát từ Hà Nội, đi bằng đủ các phương tiện, hành trình của chuyến leo núi dài nhất trong đời mà tôi từng gặp bắt đầu. Anh em biên phòng, công an Điện Biên, giắt vào người tôi đủ các loại giấy tờ, dấu triện đàng hoàng, đề phòng tôi lạc đường sang Lào hay sang Trung Quốc.
 
Vẻ đẹp của những bé thơ bản A Pa Chải
 
Có khi người dẫn đường trong sương sớm, là vợ của Phó Chủ tịch xã
 và một thiếu nữ 17 tuổi, tên là Pó Sờ
 
Đi một ngày đường, đã thấy chân mình tóe máu. Tôi ao ước, giá có thể đi bằng tay, khi mà chân không còn lê nổi nữa. Tôi ao ước mình mọc một cái ăng-ten ở đầu như Đô-rê-mon, tôi nhớ đến ông Tôn Ngộ Không với mỗi Cân đẩu vân những một vạn tám nghìn dặm. Nếu không đi thì nằm lại giữa rừng đêm, có thể bị hoang thú tấn công. Phải đi, thì mới có bản làng ngủ nhờ, ăn nhờ chứ. Cứ thế, 14 ngày đi trong rừng rậm, qua những con suối dài miên man, nước suối ăn bợt bạt đôi bàn chân tôi, vắt cắn tứ bề, máu chảy lêu lao. Mồ hôi bị vắt kiệt, cảm giác muốn kêu lên đau đớn: “tôi ơi, tôi có còn là tôi nữa không”.
 
Không một dấu vết của bánh xe tròn, không một thiết bị của cuộc sống văn minh,
chỗ nào “văn minh” lắm thì chỉ có một đàn ngựa buộc ngoài gốc cây làm
phương tiện thay sức người ở những đoạn qua thung lũng bằng
 (dốc núi quá cao, ngựa cũng không đi được)
 
Chợt gặp các a nhí (em gái) đi cắt cỏ tranh về

Bù lại, thiên nhiên đã dạy tôi những bài học để đời. Tôi thổn thức với những rừng hoa trắng tinh khôi, đi cả ngày không dứt cái màu trắng ấy. Những triền rừng đỏ ối hoa trạng nguyên, hoa vông, hoa gạo. Những cánh rừng trùm phủ kín cả các vòm trời, lớp lá mục khô, thơm, ngập đến đầu gối người đi rừng. Thiên nhiên hoang dã mà khốc liệt. Ông Chang Gố Chừ sống bên khe Hai Bà Cháu mà nhớ thương mẹ mình cùng cô con gái bị hổ ăn thịt. Ở đó, nước mằn mặn, những tảng đá nhẵn thín như lưỡi một con quái vật khổng lồ đang lè ra. Đá và nước ấy có chất muối, muôn đời qua, muông thú vẫn ra đó liếm đá và uống nước. Thợ săn vớ bẫm, hổ ăn thịt người, gấu tát chết người cũng vì những miền mặn muối như thế. Bố vợ của anh Lỳ Hà Xá (phó bản) vừa bị gấu tát chết, mộ còn chưa xanh cỏ khi tôi đến dòng Nậm Ma thăm viếng. Con cầy bay kêu như đứa trẻ khóc đêm đêm. Con nai tác oan khiên trong chiều muộn. Sáng ra, con hoẵng thơ ngây ngoắc cái “sừng” lên kuhhỏi triền cỏ tranh Tá Miếu, cứ như con gà trống đang kiếm ăn ở ven đô xứ Đoài quê tôi. Con gái Hà Nhì ne nép tắm suối, a nhí a cồ (anh và em) lí lơ đằm thắm, trang phục của các a nhí a pa (em gái, các mẹ) như trỉa lấy những sắc màu quyến rũ nhất của núi rừng biên cương. Thiên nhiên khốc liệt và diễm tình thấm vào tôi, ngọt lịm.
 
Đường vào ngã ba biên giới, qua những dòng suối mướt xanh bên các rặng hoa cúc
 quỳ vàng nhè nhẹ, tất cả mơ màng trong sương mù …

Đi mấy ngày trời, vẫn một màu hoa cúc quỳ vàng mê dại ven suối ầm ào đá tảng. Bên suối Nhù Hồ, khu Đại Miếu thiêng liêng, Tết đến người ta giết một con trâu đen, một con trâu trắng tế trời đất. Người giáp biên của ba quốc gia cùng ăn chung một bữa tiệc núi. Tôi đi đúng lễ “cấm bản”, suốt 3 ngày không ai được mở phom cổng dựng bằng thân cây gạo tua tủa gai ra. Sừng Sừng Khai bảo: phải ở lại bản uống rượu, chung vui. Ngoài cổng, treo cả đầu lợn, đầu dê, đầu gà còn ướt lông, nhểu máu. Treo để dọa trừ tà ma.
 
Thiếu nữ Hà Nhì rực rỡ sắc áo ở bản Tả Kho Khừ
 
Từ những chuyến đi như thế, tôi đã nghe nhiều huyền thoại về Anh hùng
giáo dục đầu tiên của Việt Nam, thầy Nguyễn Văn Bôn. Sau khi tìm được
ông ở Hải Phòng, viết về ông, chúng tôi đã giúp ông thực hiện tâm nguyện
lúc về già: trở lại A Pa Chải, thượng nguồn sông Đà, nơi ông đã cống hiến
 tuổi thanh xuân cho giáo dục và trở thành Anh hùng đầu tiên. Trong ảnh,
sau nhiều ngày đi bộ, ông Bôn gặp lại những người học trò đã quá
già của mình. Họ cùng khóc vì vui sướng


3. Trở về, tôi viết một cuốn sách (đã in) xung quanh miền rừng có quá nhiều chuyện “khó tin nhưng có thật” đó. Tôi vẫn đều đặn trở lại, vẫn gắn bó với từng phận người nơi đó. Dần dà, tôi nhận ra: hoang sơ đã làm thay đổi tôi, đã ám ảnh tôi. Tôi đã trực tiếp đi nhiều ngày thực hiện “Nối vòng tay lớn”, vận động hàng tỉ đồng cho Tây Bắc, đã viết hàng trăm bài báo, tác phẩm truyền hình, cùng những cuốn sách xúc cảm - điều tra - phân tích về Tây Bắc. Đôi lúc nghĩ, những cố gắng của tôi, nếu đem lại kết quả nhỏ nhoi nào cho Tây Bắc, đều là vì chuyến đi “một mất một còn” để thấy cái giá của sự hoang sơ năm trước.
 
Đỗ Lãng Quân

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm