Một chuyến đi

Ấn tượng lần tới Thuỵ Điển

21/04/2009 18:14 GMT+7 Google News

(Bài dự thi) - Trong đời, mỗi người đều có những kỷ niệm thật khó quên về những chuyến đi xa. Mẹ tôi - một người phụ nữ nông thôn cả đời chẳng đi khỏi làng. Một lần, được cậu tôi đưa ra chơi thành phố (cách đó chưa đầy 30 km), được vào rạp xem phim, hàng chục năm sau mẹ vẫn kể cho chúng tôi nghe. Với mẹ, đó là kỷ niệm rất sâu sắc về một chuyến đi xa. Tôi hoàn toàn tin, bởi với tôi cũng có ấn tượng tương tự như vậy, cho dù về khoảng cách địa lý, chuyến đi của tôi xa hơn nhiều so với chuyến đi của mẹ – đó là lần tôi được đến đất nước Thuỵ Điển.

Đó là thời điểm cuối tháng 9/2002, tôi công tác ở Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Bắc Giang là một trong những tỉnh miền núi đầu tiên trong cả nước được tiếp cận Dự án Phát thanh trực tiếp do tổ chức Si Đa (Thuỵ Điển) tài trợ. Sau khoá học ngắn ngày tại địa phương do chuyên gia Thuỵ Điển và Đài Tiếng nói Việt Nam đào tạo, tôi may mắn là một trong hai học viên của lớp được chọn đi thực tập tại Thuỵ Điển 10 ngày.

Đoàn công tác của chúng tôi có 9 người, gồm các anh chị ở một số Đài địa phương khác như: Quảng Nam, Bình Dương, Vĩnh Long và một anh phiên dịch. Với những người có điều kiện hay ra nước ngoài, một chuyến đi xa như vậy có lẽ cũng rất bình thường, nhưng với tôi, sống ở tỉnh lẻ, những chuyến đi xa nhất chỉ thuần tuý là đi lên miền núi, vùng cao thì chuyến đi ấy quả giống như một câu chuyện cổ tích. Biết mẹ lần đầu được đi máy bay và lần đầu đi xa nhất, buổi tối hôm trước, cô con gái 8 tuổi của tôi đã hý hoáy gấp ba ngôi sao nhỏ bằng giấy màu xanh, giúi vào tay mẹ thì thầm: “Con chúc mẹ may mắn!”. (Chẳng là thời điểm đó, trên VTV3 mới có chương trình “Đường lên đỉnh Olimpia”, trước khi trả lời, các em học sinh thường hay lựa chọn “ngôi sao hy vọng”).

Tôi đã đi. Chẳng dám hy vọng điều gì nhưng luôn thấy mình may mắn. Mùa thu, Thuỵ Điển đẹp vô cùng. Mặc dù trước khi ở nhà, tôi đã tìm đọc những bài báo giới thiệu về đất nước Thuỵ Điển, nhưng vẫn như bị choáng ngợp với những điều kỳ diệu mắt thấy, tai nghe. Thủ đô Stockholm vừa có đẹp lộng lẫy, kiêu sa của một thành phố hiện đại, có mức thu nhập cao nhất nhì Bắc Âu, vừa có vẻ đẹp cổ kính, dịu dàng với những nếp nhà nơi phố cổ được xây bằng đá; trong thành phố có rất nhiều cây xanh và nhiều hồ. Đi trên đường phố thủ đô luôn thấy một cảm giác rất yên tĩnh, thanh bình.

Mười ngày ở Thuỵ Điển, chúng tôi rất bận bởi chương trình hoạt động gần như kín hết. Chúng tôi được đến thăm, tìm hiểu hoạt động nghiệp vụ tại Đài truyền hình quốc gia, Đài phát thanh quốc gia, thăm Đài phát thanh địa phương Dalarna, ham gia lớp tập huấn tại trường đào tạo nghiệp vụ phát thanh của Thuỵ Điển (cách thủ đô chừng 300km). Tại đây, với sự giúp đỡ của các đồng nghiệp nước bạn, chúng tôi còn được đi thực tế, phỏng vấn người dân, làm chương trình phát thanh trực tiếp bằng tiếng Việt trên sóng phát thanh của đài địa phương. Trong những ngày đó, chúng tôi đã được mở mang kiến thức và học tập được rất nhiều kinh nghiệm về nghiệp vụ làm báo phát thanh, cách tiếp cận với công chúng, phong cách làm việc của các đồng nghiệp Thuỵ Điển… Và điều ấn tượng nhất đối với tôi đó là sự nhân hậu, thân thiện, ý thức tự hào về dân tộc mình của người dân Thuỵ Điển.

Người đầu tiên để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi đó là nữ nhà báo Maud Granberg – công tác ở Đài Dalarna. Chị chừng 40 tuổi, dáng cao gầy, có đôi mắt xanh biếc màu da trời. Chị đã có hai lần sang Việt Nam tham gia đào tạo về nghiệp vụ phát thanh trực tiếp tại Bình Dương và Vĩnh Long. Biết chúng tôi sang và sẽ đến nơi chị đang công tác, chị đã tự lái xe đi 100 km để đón. Chị nói ngày chị sang Việt Nam, các bạn đồng nghiệp ở hai tỉnh đã luôn cởi mở, thân thiết. Khi ra về, chị rất nhớ Việt Nam. Chiều ấy, chị đã mời cả đoàn về thăm nhà riêng của chị, một ngôi nhà nhỏ xinh xắn nằm sâu trong rừng. Chồng chị là luật sư, anh cũng rất giản dị và hiếu khách. Anh nói, anh chưa hề đến Việt Nam, nhưng phần nào đã hiểu về Việt Nam qua cảm nhận mà vợ anh kể lại. Cả hai vợ chồng chị đã cùng vào bếp nấu ăn để chiêu đãi khách. Bữa ăn có cá hồi, thịt nướng, rượu vang và có cả cơm nấu bằng gạo Ấn Độ. Khuôn mặt Maud Granberg đỏ ửng, dịu dàng. Chị cứ băn khoăn sợ cơm chị nấu không ngon bằng cơm ở Việt Nam. Khắp các gian phòng không bật điện mà đều thắp nến. Anh phiên dịch ghé tai tôi nói nhỏ người Thuỵ Điển thường thắp nến để tỏ lòng mến khách. Suốt bữa ăn, hai vợ chồng đã giới thiệu cho chúng tôi về những phong tục, văn hoá của Thuỵ Điển và đã tự kéo đàn violon, hát cho chúng tôi nghe những bài dân ca của dân tộc mình. Bất đồng ngôn ngữ, chúng tôi không hiểu nhiều lắm về ý nghĩa của giai điệu, lời ca, nhưng có thể đọc được niềm tự hào chan chứa khi nhìn vào ánh mắt của họ.

Vì bận rộn nên đến ngày cuối trở lại thủ đô Stockholm, tôi mới có dịp đi bách bộ, muốn mua một chút quà về làm kỷ niệm. Tôi một mình đi vào một con phố khá sầm uất, có hình con sư tử bằng đá. Ở nhà, mọi người đã nói, giá cả các mặt hàng ở Thuỵ Điển rất đắt, túi tiền của một công chức tỉnh lẻ như tôi tốt nhất là không nên tiếp cận. Nhưng lúc ấy, đôi chân quen trèo đèo, lội suối và chỉ hay đến chợ quê của tôi đã chẳng nghe theo lời khuyên của lý trí. Tôi đã ung dung bước vào một cửa hiệu bán áo khoác. Một chiếc áo da đen rất đẹp, chắc là chồng tôi rất thích, nhưng giá tận 2.000 cuarron (đơn vị tiền Thuỵ Điển). Tôi ngẩn người vì không đủ tiền. Bỗng chị bán hàng bước tới và hỏi tôi muốn mua gì. Tôi chỉ vào chiếc áo rồi lúng túng lắc đầu.

Vận dụng hết vốn liếng tiếng Anh ít ỏi, cùng với cử chỉ, tôi nói với chị tôi rất muốn mua chiếc áo cho chồng nhưng chỉ có một nửa số tiền. Chị cũng nói bằng tiếng Anh hỏi tôi từ đâu tới. Khi biết tôi từ Việt Nam sang, chị bỗng trở lên hồ hởi. Chị chạy vào kéo tay một người đàn ông (có lẽ là chồng chị) và chỉ vào tôi, trao đổi với nhau bằng tiếng Thuỵ Điển. Đoạn chị quay sang tôi và nói đồng ý bán giá ấy, cho dù cửa hàng của chị luôn bán đúng giá đã niêm yết. Chị nói, Việt Nam của các bạn nghèo nhưng dũng cảm. Chị rất khâm phục Việt Nam. Cùng với cử chỉ, chị cho biết, ngày còn bé đi học, chị đã tham gia biểu tình phản đối Mỹ ném bom ở Việt Nam. Thấy tôi có vẻ vẫn hơi ngài ngại, chị đã cười và khoát tay: “Ok! Ok!...”, đoạn gấp áo đưa cho tôi.

Dẫu vẫn biết, tính cách người Thuỵ Điển nhân hậu và thích làm việc thiện, hông chỉ trong những năm tháng chống Mỹ cứu nước, mà trong những năm gần đây, Thuỵ Điển là một trong những nước đã viện trợ, giúp đỡ Việt Nam rất nhiều, song tôi vẫn không khỏi bất ngờ trước sự thiện chí và tình cảm mà người bán hàng trên đường phố của thủ đô Stockholm đã dành cho Việt Nam.

Có câu nói rằng: con người không thể tắm hai lần trên một dòng sông. Tôi biết, với một công chức tỉnh lẻ bình thường, tôi rất khó có cơ hội thêm một lần lại được sang Thuỵ Điển, được đến với đường phố, cánh rừng nơi tôi đã đến; gặp lại những con người đã để lại ấn tượng đẹp đẽ trong tôi. Nhưng có một điều rất lạ, khi xem một bài báo, một bộ phim giới thiệu về Thuỵ Điển, nhìn thấy một sản phẩm có nhãn mác madein Sweden, tất cả cứ thấp thoáng, hiện về trong tôi…

Có những lúc, tôi đã buồn phiền vì có những ước mơ mình chưa đạt được, Nhưng bình tĩnh lại, tôi vẫn muốn cám ơn cuộc sống, bởi nó đã cho tôi rất nhiều. Một trong món quà mà cuộc sống đã cho tôi, đó là chuyến đi Thuỵ Điển. Chuyến đi đã phần nào giúp tôi hiểu hơn về lòng nhân ái, về tình yêu đối với dân tộc của con người Thuỵ Điển. Vâng, khi yêu dân tộc, người ta không chỉ tự hào, muốn làm những điều tốt đẹp vì dân tộc mình mà còn sẵn sàng làm những điều tốt đẹp vì dân tộc khác – đó là điều tôi đã cảm nhận được từ những việc tưởng chừng rất nhỏ trong những ngày đến thăm Thuỵ Điển.

Lê Thị Huyền

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm