Hà Đình Cẩn - Tác giả những bài Tiếng Việt về rừng và biển

Gặp lại các tác giả được đưa vào SGK (Kỳ 26):

Hà Đình Cẩn - Tác giả những bài Tiếng Việt về rừng và biển

Thứ Tư, 30/09/2020 19:05 GMT+7

(Thethaovanhoa.vn) - Văn Hà Đình Cẩn được đưa vào sách giáo khoa Tiếng Việt các lớp 3, 4, 5 là các trang trích từ những tác phẩm đầu tay của ông - ký sự “Quần đảo san hô” (1979) và tập truyện ngắn “Vùng rừng âm vang” (1980). Nhìn từ nguồn trích dẫn, và nội dung bài trích, có thể nói, Hà Đình Cẩn thuộc danh sách các tác giả đem rừng và biển vào những bài học tiếng Việt đầu tiên của học sinh lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng.
Gặp lại các tác giả được đưa vào SGK (Kỳ 25): Hoài Vũ – đau đáu về một 'miền xanh'

Gặp lại các tác giả được đưa vào SGK (Kỳ 25): Hoài Vũ – đau đáu về một 'miền xanh'

Nói đến nhà thơ Hoài Vũ, có thể ít người biết, nhưng nói đến bài hát Vàm Cỏ Đông thì ngược lại. Vàm Cỏ Đông là bài hát mà nhạc sĩ Trương Quang Lục phổ bài thơ cùng tên của Hoài Vũ. Bài hát với lời thơ của Hoài Vũ đã đi vào lòng người yêu nhạc nhiều thế hệ…
1. Tập ký sự Quần đảo san hô của Hà Đình Cẩn được giải Nhất cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi do NXB Kim Đồng và Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức (1976 -1979). Từ sách này, nhóm biên soạn giáo khoa Tiếng Việt tiểu học, bộ cũ, (đang dùng cho các lớp 2 , 3, 4, 5) chọn đưa vào tr.108 sách Tiếng Việt 3 (tập 1), bài Cá heo ở vùng biển Trường Sa:
“Đêm trăng, biển yên tĩnh. Một số chiến sĩ thả câu. Một số quây quần trên boong tàu ca hát, thổi sáo. Bỗng có tiếng đập nước ùm ùm như có ai đó đang tập bơi. Một người kêu lên: "Cá heo!". Anh em ùa ra vỗ tay hoan hô: "A! Cá heo nhảy múa đẹp quá! Thế là cá thích, nhảy vút lên thật cao. Có chú quá đà, vọt lên boong tàu cách mặt nước đến một mét. Có lẽ va vào tàu sắt bị đau, chú nằm im, mắt nhắm nghiền. Một anh chiến sĩ đến nâng con cá lên hai tay, nói nựng:
- Có đau không, chú mình? Lần sau, khi nhảy múa, phải chú ý nhé!
Anh vuốt ve con cá rồi thả xuống nước. Cả đàn cá quay ngay lại phía boong tàu, nhảy vung lên một cái như để cảm ơn rồi tỏa ra biển rộng”.
Sách chỉ yêu cầu các em học theo nhà văn cách bỏ đúng chỗ những dấu chấm than và chấm hỏi. Nhưng người dạy giỏi, làm sao dạy mà như kể các bé nghe, rồi hiểu những dấu cảm, dấu hỏi ấy được bắt đầu từ sự cưng nựng, nhún nhường, chu đáo, trân trọng của anh lính thủy đối với những chú cá heo, những người bạn biển xanh của mình. Với câu chuyện loài người và loài vật rất dễ thương trên, thì sau các tri thức ngữ pháp, ngữ văn, gợi được chút gì nhân văn với các bé tiểu học thì đấy là thành công lớn của người dạy! Là tri âm, đồng cảm với tác giả Hà Đình Cẩn!
Chú thích ảnh
Nhà văn Hà Đình Cẩn
Ở trang 144 sách Tiếng Việt 5 (tập 1), Hà Đình Cẩn kể một chuyện lạ đường rừng, chuyện Thôn Chư Lênh đón cô giáo trích từ sách Vùng rừng âm vang. Trong truyện, nhân vật nữ chính “Nhận con dao mà già trao cho nhằm vào cây cột nóc, Y Hoa chém một nhát thật sâu vào cột”, khắc sâu lời thề khai sáng với buôn làng. Đẹp như một nhân vật anh hùng trong các trường ca Tây Nguyên, cô giáo Y Hoa cầm dao mở đường, mở trường cho buôn làng. Để rồi khi Y Hoa xuống bút viết những chữ đẹp cho bài học đầu tiên thì truyện kết trong tiếng hò reo tôn vinh đạo học, tôn vinh chữ nghĩa: “Ồ! Chữ cô giáo này! A, chữ, chữ cô giáo!”.
Cá heo ở vùng biển Trường Sa mềm mại, uyển chuyển, thoáng đãng như bài thơ văn xuôi, Thôn Chư Lênh đón cô giáo uy nghi, quyết liệt như một hồi kịch mà mâu thuẫn được cởi bằng một vĩ thanh là lời nói như hát của dàn diễn viên quần chúng. Viết ký, viết truyện mà được những trang như thế cho sách giáo khoa là vì Hà Đinh Cẩn trong đời văn của mình đã thử bút ở cả kịch, thơ và có nhiều thành công!
2. Hà Đình Cẩn làm thơ như là cách đẩy những từng trải của mình, nếu chưa đủ thăng hoa trong văn xuôi, thì thăng hoa ở thể loại rất chắt lọc, rất chưng cất này. Chắt, chưng để cô lại tới mức có được những chữ thơ, nhỏ hơn một từ, chỉ còn là một mẫu tự, một chữ cái, một giọt chữ: Tiếng có là tôi/ Giữa đội hình tiểu đội/ Mười hai tiếng có là A/ Ba mươi sáu tiếng có là B/ Một trăm hai mươi tiếng có là C/ Khối tiếng có hóa quân cờ/ Trên bản đồ chiến dịch. (Người lính, tr.7 tập thơ Ngày đi qua, NXB Hà Nội 2010)
“Khối tiếng có” xếp bằng những cá nhân đã đồng phục lại vô danh cứ ngày một nhiều, 12 rồi nhiều hơn, 36 nhiều hơn nữa 120… dòng chảy chiến tranh đổ nhưng cá nhân ấy vào các khuân đúc đơn vị A, B, C… Chiến tranh buộc người lính, cởi tên riêng, gửi tên riêng cho cấp chỉ huy, rồi tất cả được điểm danh và tự xướng danh, giống nhau: Có! Có! Có! Họ đã làm theo khúc quân hành từng đồng thanh một thời: “Vì nhân dân quên mình…”.
Nếu soi bài thơ dưới ánh vàng lung linh của đài tưởng niệm Bắc Sơn ngoài quảng trường Ba Đình, bên Hoàng thành Thăng Long, thì ánh sáng tri ân ấy, sẽ soi rõ hơn cách hiểu bài thơ - trong tiếng Việt, khi chữ “người lính” đồng nghĩa với chữ vô danh, thì đấy là một chữ đẹp!
Còn chữ đẹp, dáng đẹp khác, sáng bừng một đêm nơi các anh “Có” binh nhất, binh nhì đang ra trận: “Phố ga/ Anh từng qua/ Thời lính sư đoàn chủ lực/ Súng ống mới toanh/ Tràn trề sức vóc/ Chỉ câu chuyện tình còn bỏ trống cuối trang thư” nhưng, một cô hàng rong tiên nữ đã kịp xuất hiện: “Chuyện như thực như hư/ Cả vạn quân lên tàu không ai đưa tiễn/ Chỉ cô bé bán hàng rong chợt đến/ Với chiếc khăn xanh em đứng vẫy cả đoàn người”. (Phố ga, tr.71, tập thơ Ngày đi qua).
Từ thời chiến khác thường, trở về với hòa bình thường nhật, nhân vật trữ tình trong thơ Hà Đình Cẩn không mất đi sự lãng mạn nên có, cần có. Đó là những người công nhân làm đường, biết “Bay trong mây, bước qua các đỉnh núi”, vì thế họ không “mặc kệ nó” khi thấy “Hoa đành chết già trên vách cao” vì “Bậc đá trong mây, ong bướm không tìm đến”, họ mở công trường như mở một không gian nghệ thuật để: “Cả ngàn chàng trai nhận lời nhắn gửi/ Yêu em đừng sợ núi ngăn đường, Các chàng treo người lên vách dựng/ Mở đường như tác tượng/ Con đường hiện dần trên đá đẫm mồ hôi”.
(Lời anh công nhân duy tu đường Mã Pí Lèng, tr.39 tập thơ Ngày đi qua).
Biết “mở đường như tạc tượng” thì đá núi cũng kính nể, cũng “toát mồ hôi” khi chiêm ngưỡng!
3. Mãi sau này tôi mới biết tác giả Hà Đình Cẩn khi dạy văn ông trong sách giáo khoa, nhưng trước đó đứa em tên Kim Cúc của tôi đã thành nhân vật trong bài bút ký Cánh buồm trong rừng tràm ông in trên tạp chí Văn nghệ Quân đội từ 1978!

Chú thích ảnh
Bài “Thôn Chư Lênh đón cô giáo” của Hà Đình Cẩn trong sách “Tiếng Việt 5” (tập 1)
Những ngày ấy tôi đã lên thăm em tôi khi nó đóng quân, cùng đồng đội gieo cấy trên cánh đồng mênh mông dưới chân dãy Thất Sơn trong tứ giác Long Xuyên, được nó đãi món canh cải cá rô đồng nấu lối Bắc, gỡ cá lấy thịt rồi đâm, giã xương cá trong một cái nón sắt quân dụng đã lỗi thời. Vậy là tôi có ti tí từng trải với chính tác giả mà tôi đang giới thiệu. Ông viết về em tôi như thế này:
“Cô gái ấy là Kim Cúc. Một tiểu thư con gia đình giàu có của Sài Gòn trước năm 1975”. “… ngày bộ đội kéo vào giải phóng thành phố, Kim Cúc đang học đại học…”. “Tiểu thư Kim Cúc đẹp, dịu dàng, cả ngày có nụ cười thật xinh trên môi”. Nhưng người đẹp áo lính nhà tôi, theo tường thuật trực tiếp của Hà Đình Cẩn tại trại rắn Đồng Tâm, Tiền Giang hôm ấy: “… đang tắm cho con trăn to cỡ cột nhà, 62 kilogam”. “Được cô gái đổ nước lên mình, trăn khoái quá vùng vẫy cứ chực lao đi. Cô giữ lại, con trăn càng vùng vẫy, rồi như bực tức nó cuộn một vòng quanh cô gái”.
Không chỉ thuộc, viết hay về người lính, Hà Đình Cẩn còn nhiều trang thú vị, dựng rất có thần, chân dung những trí thức, những văn nghệ sĩ Việt Nam. Ông viết về Võ Nguyên Giáp, Hữu Loan, Ma Văn Kháng, Tào Mạt, Đỗ Chu, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Bắc Sơn, Phạm Ngọc Cảnh, Pờ Sào Mìn… Ở bức văn Ngẫu hứng chèo trong tập búy ký Theo tháng năm đi (NXB Văn hóa Văn nghệ, 2019), Tào Mạt sống thật tròn vai người.
Hà Đình Cẩn nhìn thấy trong Tào Mạt người anh văn nghệ tài hoa, thương em Phạm Tiến Duật, người anh hào phóng nhường em bộ sa lông gỗ quý tỉnh Thanh tặng mình. Quà quý hiếm mà cách cho thân tình, ông nói với cô giáo Vân, bà Phạm Tiến Duật, như nói với em dâu: “Cho bọn trẻ con ra khiêng bộ ghế vào nhà, để Tết khách đến chơi còn có chỗ ngồi, chứ bệt à?”. Lại còn tặng thêm bài thơ Xuân chữ Hán tức hứng, xuống bút tại trận mà bừng bừng chất lính: “Tàn Đông Xuân vị đáo thi gia/ Táo lãnh, bình không nội diệc ca/ Hốt kiến hủ tường tân lịch ảnh/ Biên phòng chiến sĩ thưởng đào hoa (Đông tan nhưng trong nhà thi sĩ Xuân chưa đến/ Bếp còn lạnh, chai hết rượu, chỉ có lời ca cẩm của người vợ/ Chợt nhìn thấy tờ lịch mới treo trên bức tường cũ/ Nơi biên giới, người chiến sĩ đang ngắm hoa đào).
Sách giáo khoa đang được làm mới, nhưng dù mới đến đâu thì trong sách vẫn cần có những người lính đầu bạc, người lính nghệ sĩ như Hà Đình Cẩn, kể lại với người học những từng trải núi cao, biển rộng của mình!
(Còn tiếp)
Vài nét về nhà văn Hà Đình Cẩn
Nhà văn Hà Đình Cẩn sinh 1945, là hội viên Hội Nhà văn, Hội Nhà báo, Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam. Ông nhập ngũ 1965, từ người lính bộ binh trở thành phóng viên mặt trận của báo Quân đội Nhân dân. Sau khi giải ngũ ông từng làm việc ở Tạp chí Sân khấu, NXB Sân khấu, Tạp chí Hồn Việt… Tác giả Hà Đình Cẩn đã xuất bản hơn 20 tác phẩm thuộc nhiều thể loại, và nhận nhiều giải thưởng văn học, sân khấu… Hiện ông sống và viết tại TP.HCM
Lê Cát Quế
Gửi ý kiến
Chọn avatar
Họ tên*
Email*
Những tuyệt chiêu lấy lại bản lĩnh phòng the 
quý ông nên biết

Ngăn ngừa và đẩy lùi bệnh tim mạch bằng liệu pháp tự nhiên