Ai bảo rằng những rừng hoa đá không tỏa sắc hương? Ai bảo đá vô tri không biết kiêu hãnh đi thẳng đến bàn nghị sự của UNESCO tận bên Paris để đòi nhân loại tiến bộ xưng tụng mình là báu vật của thế gian?
Đó là chuyện của miền đá rộng gần 600 km2 ở tỉnh Hà Giang.
Miền đất nghèo khó và quật cường bậc nhất
Có rất nhiều cái kỷ lục ở một sự kiện: trên bàn vinh danh di sản địa chất của UNESCO, hiện nay, đang có đề án Công viên địa chất toàn cầu - Cao nguyên đá Đồng Văn - Việt Nam. Với diện tích gần 600km2, miền đá thuộc 4 huyện Yên Minh, Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc của Hà Giang là cao nguyên cao nhất nước ta. Đó cũng là nơi duy nhất của Việt Nam được nể vì, xưng tôn là: “cao nguyên đá”. Một miền đá ngút ngàn, chất ngất, rợn ngợp, đẹp sởn gai ốc. Chỉ cần một cú đi bổ dọc qua cao nguyên đó, bạn đã tiêu tốn mất 200km đường đèo dốc vừa kinh khủng hãi hùng, vừa ngoạn mục nhất Việt Nam.

Với 250.000 dân đang sinh sống, thuộc 17 dân tộc thiểu số còn quá nhiều khó khăn hiện nay, cao nguyên đá Đồng Văn còn giữ ngôi “quán quân”: là miền đất nghèo khó và quật cường bậc nhất Việt Nam. Có một “nền văn minh” đẽo đá dựng tường, dựng nhà, xây mồ mả bằng đá; vốc từng vốc đất nhểu vào các trận địa đá mênh mông để gieo từng hạt ngô răng ngựa. Ở đây cũng chứng kiến các cuộc trường chinh đẫm máu của người Pháp qua các “cửa ải đá” một người cố thủ có sức địch đủ thiên binh vạn mã hòng đoạt đất và chiếm vùng đất này - đó là những trang sử miệt rừng vô cùng ám ảnh.
Ai cũng biết, tất cả những điều đó, chung quy đều bởi vì sự dữ dằn, kỳ vĩ, độc nhất vô nhị của cao nguyên đá Đồng Văn mà ra.
Giấc mơ của ông tiến sĩ địa chất
Nhóm nhà địa chất đang bạc mặt ngồi nghĩ kế lập hồ treo trữ nước “giải” cơn khát truyền kiếp cho cao nguyên đá bỗng thấy một vị tiến sĩ mơ màng: Ấy, đừng đẽo đá đi bán, hãy giữ lấy đá, ta làm công viên tuyệt đẹp để nhân loại đến đây xem các kỳ quan của đá. Xem đá vô tri đang xưng tụng, hàm ơn trời đất đã sinh ra đá như thế nào!” - TSKH Vũ Cao Minh (Viện Địa chất), người đi tiên phong và đã rất thành công trong phương án táo bạo lập “hồ treo giải khát”, cũng như trong hồ sơ tôn vinh cao nguyên đá Đồng Văn kể lại. Phải rồi, hôm đó ông Minh và cộng sự đang cao hứng uống rượu ngô với dân bản thì nói “mộng mơ” thế thôi, chứ hồi đó Việt Nam làm gì đã biết đến khái niệm “Công viên địa chất toàn cầu”! Nhưng, câu chuyện đó cũng cho thấy từ rất lâu vẻ đẹp của cao nguyên đá đã hớp hồn du khách.
Lắng nghe tiếng nói của đá
Bạn muốn trò chuyện với tạo hóa, muốn biết sự trồi lên thụt xuống, sự vỡ òa, đứt gãy và bóp nắn tài tình của Bà Bụt đã nặn ra bề mặt trái đất này không? Xin hãy lên với “công viên địa chất toàn cầu - cao nguyên đá Đồng Văn”.
Tôi lên Đồng Văn, Mèo Vạc đến thuộc lòng từng khúc cua, từng mỏm núi ven đường, đến mức người ta dùng tư liệu của tôi để “viết sử” cho đường Hạnh Phúc, để lập hồ sơ cho Mã Pí Lèng được công nhận di sản. Người ta dùng ảnh tôi chụp để “phóng” thành pa-nô, áp-phích “quảng bá” cho Công viên địa chất toàn cầu ở đỉnh Mã Pí Lèng.
Lần nào bị đá dụ dỗ lên với mây gió Đồng Văn, Mèo Vạc, tôi cũng tự hỏi: bằng sự tài hoa và những ngụ ý nào, mà ông trời đã ban cho muôn đời dân Việt ta một thắng cảnh, kỳ quan lạ lùng đến thế. Có phải 600 triệu năm qua, các hoang mạc đá, tường thành đá, rừng đá và biển đá nơi này đã tự gọt dũa mình, tự trang điểm để làm chúng ta ngỡ ngàng?
Thắng cảnh Núi Đôi ở Quản Bạ thật sự là một kỳ quan hy hữu của đất trời. Không hiểu, trong vận động tạo sơn, vô tình hay hữu ý, mà thiên nhiên lại tạo ra hai đỉnh núi tròn giống nhau đến thế, và lại giống hai bầu ngực tiên nữ đến vậy.
Đá miên man, đá chất ngất, kéo dài hàng trăm cây số thì quả là khốc liệt rồi, nhưng phải đến “hoang mạc đá Sảng Tủng”, bạn mới cảm nhận hết sự cằn cỗi, chết chóc của xứ sở “sống trên đá chết vùi trong đá”. “Vườn thú đá Lũng Pù” nhấp nhổm hàng nghìn con thú hoặc to hoặc nhỏ, hoặc nhẵn thín trơn mượt như lông hươu nai lúc ở trong rừng giàu, hoặc có khi xù xì gai góc như lũ nhím rừng. Rồi “bãi đá Hải cẩu” ở Vần Chải, “vườn hoa Đá Khâu Vai”, “rừng đá Sà Phìn - Lủng Táo”, “tháp kim Pả Vi” , “rừng măng đá tự nhiên”, “rừng đá Phong hóa”... đều là những kỳ quan.
Độc đáo nhất trong số này, có lẽ là các vách đá vôi ở Tu Sản với các hẻm vực ven sông Nho Quế ở đoạn chảy qua nóc nhà cao nguyên cao nhất Việt Nam - đỉnh Mã Pí Lèng. Đây là một trong những vách đá vôi vào loại cao nhất thế giới. Đứng ở đây, tôi lại nhớ chữ của nhà văn Nguyên Ngọc khi ông xúc cảm trước Mã Pí Lèng: “Và bây giờ hãy vịn chắc tảng đá bên bờ vực này mà cố nhìn xuống con sông Nho Quế dưới kia. Hàng nghìn thước sâu có thừa. Ngọn núi lớn có lẽ từ hàng triệu năm trước, một hôm nào đó, đột ngột bị một nhát rìu khổng lồ chém đứt làm đôi, nhát chém dữ dội và sắc lẹm quá, cả trái núi đá hàng vạn ki-lô-mét khối bị bổ dọc, nứt toác ra, hai bờ thẳng đứng, bên này là Mã Pí Lèng, bên kia là Sam Pun, ở giữa dưới nghìn mét sâu là con sông Nho Quế leo lẻo xanh đến rợn người” (Bút ký Trở lại Mèo Vạc).
Bà con bản xứ, bao đời nay vẫn đóng cọc trên đỉnh Mã Pí Lèng để bấu víu lúc buộc phải vượt qua, kẻo sợ khi bò qua chín khoanh đèo ven mép vực nghìn mét lồng lộng gió kia, họ sẽ bị... bay xuống sông Nho Quế. Họ gọi đó là Dốc Chín Khoanh, Con Dốc Của Giàng (Trời).
CÁC HẺM VỰC SÔNG NHO QUẾ LÀ NHỮNG KỲ
QUAN CỦA LOÀI NGƯỜI Đặc biệt độc đáo là các hẻm vực sông Nho Quế với
mặt cắt địa hình từ khu dân cư ở, xuống đến lòng sông Nho Quế khoảng
1.000m, đây là một đặc thù mà ít có vùng đá nào trên thế giới có được.
Các hẻm vực sông Nho Quế là những kỳ quan của loài người, những vách đá
vôi cao bậc nhất trên thế giới. Các “cường quốc” về công viên địa chất
như Trung Quốc cũng không có được. Nhiều chuyên gia người Pháp, xưa kia
đã kỳ công nghiên cứu khu vực đèo Mã Pì Lèng, người ta gọi đó là những
“tượng đài địa chất” tuyệt vời. Người Việt Nam gọi đây là một đệ nhất
hùng quan, đứng ở đó, chúng ta mới cảm nhận hết được sự hùng vĩ của cao
nguyên đá, cao nguyên cao nhất Việt Nam” (TSKH Vũ Cao Minh). Thật khó để diễn tả hết vẻ đẹp của Công viên địa chất toàn cầu - Cao nguyên đá Đồng Văn, xin được nhường lời cho những tấm ảnh. |