Một chuyến đi rừng

Thứ Năm, 14/05/2009 17:56 GMT+7

(Bài dự thi) - Năm 1990, tôi 17 tuổi, vừa tốt nghiệp cấp 3. Bác tôi di dân đi làm kinh tế mới ở Bản Thịnh, Xã Châu Đình, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An - Bản của người Thái - Thanh. Tôi từ thành phố Vinh lên giúp bác lao động sản xuất.
Hãy khoan nói về cái đói, mà cái ở thôi cũng nhếch nhác lắm rồi. Nhà cột chôn, lợp tranh săng, thưng phên nứa, ở lưng chừng đồi, chơ vơ như chuồng gà bỏ hoang. Mối xông, mọt cắn, gió lay, bão cuốn, sương sa... khiến ngôi nhà liêu xiêu, vàng vọt như người sốt rét mãn tính. Các anh lớn, người đi đào đá đỏ ở Quỳ Châu, người đi Đắc Lắc xem xét tình hình, người còn ở trong quân ngũ, nên tôi trở thành “anh lớn” của các anh, chị em con bác tôi. Tôi phải đi chặt nứa để duy tu, sửa nhà. Công việc không thể trì hoãn vì mùa mưa bão đã đến. Tôi rủ Sáu đi cùng, anh ta chặt nứa về bán.
Chúng tôi chân đất, đi bộ khoảng 20 km mới đến xã Châu Thái. Chân tôi phồng rộp, mỏi nhừ. Hai anh em trú đêm ở xóm Ba nhà, trong nhà người quen của anh Sáu - Cũng là người Thái.
*
Sáng hôm sau, chúng tôi xách dao vào rừng. Từ bến nước, đến chỗ có nứa khoảng 1 km. Trong đó, quãng cuối cùng phải trèo lên nửa quả núi đất dốc đứng. Vì nứa phân bố thành bụi, khá xa nhau nên Sáu nhường tôi chỗ gần, anh đi xa hơn (Cách đây mấy năm, tôi nghe nói còn phải đi xa hơn nữa). Tôi nhìn theo, đến khi Sáu khuất hẳn sau một khúc quanh, lơ thơ cành lá. Rừng trở nên yên ắng lạ kỳ. Tiếng rừng nghe ong ong. Mùi rừng đưa thoang thoảng. Tôi cảm thấy cô đơn, lo lắng mơ hồ. Tôi tiến về phía bụi nứa, tiếng lá khô sột soạt vang rõ theo bước chân...
Tôi vừa vung dao lên, ngay lập tức một đám muỗi dày đặc u u bay ra trùm lên người. Tôi nhảy lùi lại, bẻ cành lá khuơ loạn xạ. Nghiêng ngó quanh quất một lúc, tôi quyết định bắt tay vào việc. “Pặp”, dao vung lên, gốc nứa xanh lập tức hiện lên một vệt trắng. Cây nứa  ngã nghiêng. “Pặp” dao vung lên. Nứa tươi. Thân mềm. Dao sắc. Chỉ vài ba nhát là cây nứa đứt gốc. “Pặp... Pặp...Pặp...” tôi đã vào hứng làm việc. Lũ muỗi biến đi đâu mất. Đám nứa bắt đầu ngã ra, rũ xuống, làm liên tưởng đến những cái đầu thiếu nữ tóc dài bị chặt cổ.
Lúc sau, Sáu mặt đỏ bừng, xồng xộc trong lôi hai bó nứa lối rừng đi ra.
- Xem mày làm ăn thế nào. - Anh hét oang oang.
Thình lình, một cây nứa nhọn hoắt, từ trên bụi lao cắm phập xuống nền đất ngay cạnh Sáu.Cây nứa mất gốc, vỏng lên. Vì nứa là giống lá nhiều, không có gai, trơn như tóc, nên chỉ bám hờ vào bụi. Có cơ hội là nó lao xuống. Không ít người phải khiêng thẳng từ bụi nứa ra bệnh viện. Đùi thủng. Ruột đứt...
Sáu hoảng quá, chửi um lên rồi hướng dẫn tôi làm. Thì ra, một tay phải cầm lấy cây nứa, tay kia chặt, được cây nào rút luôn cây ấy ra, sảy lá, phắt ngọn, xếp đống...
Mồ hôi đã đẫm lưng áo, nhưng nhìn đống nứa nằm toe hoe nơi vạt đất trống, tôi thấy nó quá bé, quá ít. Tôi nhớ những cây nứa ở chợ rất to, lóng rất dài, chẻ nổ bôm bốp. Tôi lại hăm hở chặt, chặt, chặt, chặt...
Sáu lấy một khúc nứa non, ngồi xuống tiện tròn, khoét nõ, làm điếu cày. Trong khi tôi bó nứa. Anh hướng dẫn tôi, bó hai cây thòi dài ra để bắc lên vai, lại có một sợi dây quàng qua ngực để kéo nữa.
Sáu hút đủ thuốc lào, cắm phập cái điếu xuống đất, xốc hai vác nứa của anh lên vai nói to “Xuống thôi”, và kéo đi. Tôi định hút thuốc, nhưng lại thôi. Cầm hai cây nứa thòi ra, hất vác thứ nhất lên vai phải, sức nặng làm tôi hơi nghiêng người lại. Tôi dịch nó lại phía vác thứ hai, cúi xuống, nhấc lên. Nhưng nặng quá, tôi loay hoay không sao đặt nó lên vai trái được. Tôi ngước mắt nhìn quanh. Sáu đã đi xa mất, xung quanh chỉ có rừng rậm, núi non, lưa thưa cây lá.
Tôi cúi xuống, trằn người để cho vác thứ nhất nằm chuồi trên lưng, dùng cả hai tay hất vác kia lên vai trái. Tôi loạng choạng, như một vận động viên cử tạ quá cân. “Đ...i... nào...”, tôi rán sức rặn. Hai bó nứa gục gặc tiến lên. Nghỉ lấy hơi, tôi hét vang “Một, hai, ba... thằng cha mày, đi... nào”. Hai vác nứa được kéo trượt đi. Có đà, tôi dấn cho mau đến chỗ dốc. Dốc rất dốc. Lúc này, hai vác nứa biến thành cái ô tô tải ủi gấp sau lưng. Do bắp chân chưa vững, ngón bám không chắc vào đất, thành ra hai vác nứa lái tôi chạy chệch choạc hết bên này sang bên kia đường. Nhưng rồi, tôi quen dần, dùng đúng sức nên đi được.
Xuống vùng đất bằng, tôi phấn khởi, kéo phăng phăng. Hai vác nứa dập dềnh trên vai, ngọn quẹt xuống mặt đường kêu rè rè, quẹt quẹt. Vứt nứa xuống mép nước, tôi thở phò phò, loạng quạng lội ra suối vục nước xoa mặt, xoa cổ rồi hể hả uống ừng ực từng ngụm lớn.
Khi trở lên kéo chuyến thứ 2, bắp chân tôi mỏi rã. Cái mệt bắt đầu thấm vì chúng tôi làm xuyên trưa mà chẳng ăn gì. Tôi vớ điếu cày réo một hơi tụt cả nõ. Chất Nicotin thấm đến từng tế bào, khói bốc qua cả chân tóc. Vị nứa non, vị thuốc lào vương vấn trên mắt, ngọt mãi ở trong cổ... Đến bây giờ, đó vẫn là điếu thuốc ngon nhất đời tôi.
Xốc vác nứa thứ nhất lên vai, tôi bắt đầu hối hận. Khi bó nứa, tôi đã không lượng sức mình. Lo thiếu nứa sửa nhà, nhưng cái chính là lòng tham, tôi bó quá nhiều. Của trời, không lấy thì tiếc. Trầy trùa mãi, tôi mới cất nốt được vác thứ hai lên. Mặt đỏ gay, mồ hôi ra nhễ nhại, tôi rán sức kéo... kéo... đi.. đi.. từng quãng, năm đến bảy mét lại phải dừng nghỉ lấy hơi. Sáu đã mất hút đi đằng nào. Tôi hiểu, giờ đây chỉ còn mình tôi trên trái đất, ở nơi hoang vắng này. Vừa lết vừa nghỉ, tôi đến chỗ dốc xuống. Nhưng tôi mừng chẳng được lâu. Dốc quá dốc. Sức lại đã yếu đi nhiều. Nứa đẩy tôi chạy ào ào. Bị mất kiểm soát, tôi ngã dúi dụi. Hai vác nứa xộc mạnh vào lưng, rồi lăn ra hai bên.
Tôi lồm cồm bò dậy, xoa vai, xoa cổ, nhìn trước, nhìn sau xem người có bị làm sao không. Tôi ngửng mặt nhìn trời xanh, muốn chửi thề, muốn đập phá cái gì đó, rồi lại muốn khóc. Lát sau, tôi lặng lẽ xốc nứa lên vai, nghiến răng đi xuống. Địa ngục thật sự bắt đầu khi đến chỗ bằng. Hai vác nứa  như mọc rễ bám vào đất, rề rà nhúc nhích từng đoạn ngắn. Tôi nghỉ rồi kéo, nghỉ rồi kéo. Con nhà cơ quan, sống ở thành phố, đôi vai vốn chỉ quen đeo cặp sách của tôi đau như xé. Rồi cái đau hình như không còn. Tất cả nhòa. Tôi như đang đi trong một giấc mơ. “Ị.. này, ị.. đi này, đ..i n..ày..”, tôi gầm gừ, rên rỉ. Thiếu chút nữa là phân són ra trong quần. Tôi buông hai vác nứa, nằm dăng chân, dăng tay ra đất. Tôi thấy bầu trời quay tròn...
Những người chưa đi rừng sẽ rất khó hiểu, nhưng nó thế này: Nếu ở nhà anh chỉ vác 40 kg thì trong rừng con số đó ít nhất là 80 kg - Cô đơn, tự lực, tham kinh khủng, khỏe kinh khủng, dai sức đến gục ngã...
Sáu quay lại tìm tôi. Anh giúp kéo một vác nứa ra bến. Nếu không có anh, tôi sẽ lê từng vác một, chứ quyết không chịu bỏ lại cây nứa nào. Tôi đã tính toán thế. Sáu còn giúp tôi nhiều trong chuyến đi rừng không thể quên đó. Anh là người tốt. Tôi nghe nói anh đã chết vì bệnh tật, nghèo đói, lao lực... Anh là con trai thứ sáu của ông Việng. Cầu cho linh hồn anh được nghỉ ngơi bằng an. .
Cánh bè xong, tôi nhìn bè Sáu trôi đi một quãng rồi chổng mông đẩy bè của mình ra chỗ nước sâu, chệnh choạng bước lên. Nước trôi. Bè chạy. Cảm giác hạnh phúc nhẹ nhàng dâng lên trong lòng tôi.
Đoạn đầu tiên, suối không quanh co lắm, nước chảy êm và đều. Tôi chú ý nhìn và làm theo các động tác của Sáu ở phía trước. Những đoạn gấp khúc, cần chống sào vào bờ đất, ghì mạnh để đầu bè khỏi đâm vào. Nước cạn, nhảy xuống lội bộ. Tôi nhìn sang hai bờ, cây bụi lúp xúp, lau lách lưa thưa, vách rừng rậm rịt... Đôi khi, có một dây hoa vông vang đỏ thắm, như chiếc khăn voan của cô gái nào lơ đãng bỏ quên.
Dòng nước đột nhiên chảy chậm lại một cách khó hiểu. Tôi bắt đầu phải dùng sào chống, bè mới chạy. Đáy nước bùn khá dày. Khi rút lên, sào cứ bị giữ lại. Dòng suối mở rộng dần. Trôi qua khúc quanh, một khoảng rộng mênh mông hiện ra trước mắt tôi. Con suối mới bị chắn lại làm đập thủy lợi. Suốt đời, tôi không quên được hoàn cảnh lúc đó. Nước đã lút sào, nên bây giờ phải chèo. Bè đi rất chậm. Phía trước, không nghe tiếng Sáu hát nữa. Hai bên bờ, nước ngập làm cây cối chết hàng loạt. Cành trụi. Lá rũ. Mùi lá thối xộc lên tận óc. Mặt trời đỏ rựng xuống nhanh như chìm, sát ngay đỉnh núi. Tôi chèo mãi, chèo mãi. Tôi ngỡ bờ sẽ không bao giờ đến...
Bè chạm mép đập khi nhọ mặt người. Trời không trăng cũng chẳng sao, trông cái gì cũng mờ mờ nhân ảnh. Hai anh em lần mò chặt dây, dỡ bè. Mỗi chuyến một vác nứa hết đi lên, lại đi xuống. Bờ đập kè đá phẳng, và dốc. Đi lên khó nhọc, đi xuống cũng khó nhọc. Quãng 8 giờ đêm, mới vác hết nứa qua thân đập. Tôi thập thễnh bước theo Sáu về xóm Ba nhà. Ánh đèn xa leo lét, tiếng chó sủa đêm oăng oẳng vu vơ...
Tôi chỉ muốn lăn kềnh ra đất mà ngủ. Vịn vách, bước chân lên bậc cầu thang nhà sàn, tôi cảm nhận rõ cái đau. Tất cả các cơ trong người đều đau. Từ cơ lưng, cơ bắp tay, bắp chân, cơ ngón tay, cơ chân tóc... đều như bị hai cái kìm sắt, kẹp chặt, bứt đôi. Cả tiếng sàn tre bập bùng dưới chân, cả gương mặt ngây ngô, thật thà của vị chủ nhà ra đón, thông báo “Thấy các chú về muộn, tôi đã nấu hộ cơm” tôi đều thấy sao mà đáng ghét quá thể. Sáu kè nhè bảo tôi đi ăn cơm. Tôi định không ăn, nhưng rồi ngồi xuống cạnh cái mâm gỗ tròn, đen xỉn. Cơm cứng. Mùi cá biển xông lên phát đau đầu. Một bát rêu xanh lè (đặc sản của người Thái) nhưng tôi không dám đụng đũa. Tôi sợ độc.
Chưa bao giờ tôi ăn khỏe thế. Bát đầu tiên còn uể oải, sang bát thứ hai, thứ ba... thì hầu như chẳng cần nhai, cứ và nửa bát một vào mồm mà nuốt luôn qua họng. Nồi cơm hết nhẵn. Tôi bò đi hớp một ngụm nước. Rồi chẳng cần rửa mồm, xỉa răng, hút vài điếu thuốc lào như thói quen, tôi vẫn bò như con sâu đo đến cái chiếu, nằm lăn ra. Có lẽ, tiếng kéo gỗ đã làm ngôi nhà sàn rung rinh đêm đó.
Sáng hôm sau, chúng tôi phải cánh lại bè. Con suối được nhập thêm dòng, dần mở to hơn. Nước vẫn chảy mạnh. Tuy đã làm quen với việc chạy bè, nhưng mấy chỗ thác gấp khuỷu tay, nước đâm thẳng vào chân núi, tôi vẫn rất vất vả. Đến một chỗ thác zíc zắc hình mấy chữ Z. Đá cục, đá tảng đầy giữa suối. Nước réo ào ào... Sáu vượt qua được, còn tôi ngã ùm xuống nước. Tôi nhôn nháo bơi theo. Trèo lên được bè, quần áo lướt thướt, nhưng nào có được nghỉ ngơi đâu. Bè vẫn cứ lao trôi. Trôi mãi. Tay chân không ngừng phải làm việc. 
Càng về xuôi có bản, có làng, tuy dòng nước rộng hơn nhưng bè dễ đâm, rồi mắc vào cọc do bà con đóng xuống suối để làm cọn dẫn nước, làm trộ bắt cá, làm bè đãi vàng. Sáu cũng ngã mấy lần xuống nước. Anh cáu vung lên. Một bè bị mắc, là cả hai phải nhảy xuống để gỡ. Nước suối bị chặn, tống ào ào. Cảnh đi bè thật khổ, trên thì nắng, dưới thì nước. Quần áo hết khô lại ướt. Đó là chưa kể cái cảnh: Nước trôi. Bè vỡ. Người ngã. Que xóc. Máu lênh loang đỏ. Thật là bán mạng, bán sức lấy miếng ăn. Ăn của rừng rưng rưng nước mắt. Cực khổ vô chừng.
Nhưng cũng có lúc, bè trôi thuận, sông nước mênh mang. Tôi gặp một đàn vịt bơi lội tung tăng, ngô bên bờ xanh mướt, những cô gái bản ra bến giặt dũ, trẻ con nô đùa hét vang...
Bây giờ, sau nhiều năm nhớ lại. Bài học về lần đi rừng đó chín dần trong tôi. Dòng sông cũng như cuộc đời, có quanh co khúc khuỷa, có phẳng lặng bình yên. Cơ chế quan liêu bao cấp xóa bỏ, con người trong cơ chế thị trường như bị quăng vào trong rừng - Cô đơn, cạnh tranh, liên kết. Người ta muốn thật nhiều, cố làm thật nhiều. Nhưng tôi nghĩ cần tỉnh táo, lượng sức để giữ cho mình thăng bằng trong cuộc sống. 
      Vinh, ngày 30 tháng 4 năm 2009
      Đậu Hải Nam
 
Ý kiến độc giả (0)
Gửi ý kiến
Chọn avatar
Họ tên*
Email*
KIỆT TÁC CHINH PHỤC ĐỈNH CAO