19/10/2026 13:52 GMT+7
Trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, số hóa hệ thống cơ sở thể thao là hướng đi thiết thực để đưa công nghệ vào đời sống.

Trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, số hóa hệ thống cơ sở thể thao là hướng đi thiết thực để đưa công nghệ vào đời sống.

Một bản đồ số tập hợp thông tin về sân chơi, nhà thi đấu, bể bơi, công viên và các điểm tập luyện có thể giúp người dân dễ dàng tìm nơi rèn luyện sức khỏe. Đồng thời, đây còn là công cụ hỗ trợ cơ quan quản lý đánh giá hiện trạng hạ tầng, xác định nhu cầu đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế thể thao.

Từ chủ trương chuyển đổi số đến nhu cầu thực tiễn

Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt ra yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, khai thác dữ liệu và nâng cao hiệu quả hoạt động trên nhiều lĩnh vực. Với ngành thể dục thể thao, định hướng này mở ra cơ hội đổi mới không chỉ trong quản lý, huấn luyện và tổ chức thi đấu, mà còn ở cách người dân tiếp cận các điều kiện tập luyện hằng ngày.

Thực tế, nhu cầu rèn luyện sức khỏe ngày càng đa dạng. Người dân có thể lựa chọn chạy bộ trong công viên, tập luyện tại các sân chơi cộng đồng, chơi cầu lông, bóng đá, tennis hoặc tham gia những lớp gym, yoga. Tuy nhiên, việc tìm kiếm địa điểm phù hợp đôi khi vẫn phụ thuộc vào thông tin truyền miệng, các hội nhóm trên mạng xã hội hoặc những nền tảng riêng lẻ của từng cơ sở.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Số hóa hạ tầng thể thao - Ảnh 1.

Thứ trưởng Bộ Hoàng Đạo Cương họp với lãnh đạo ngành thể thao về chuyển đổi số. Ảnh Cục Thể dục thể thao Việt Nam

Một người muốn tìm sân cầu lông gần nhà cần biết địa điểm, giá thuê, khung giờ còn trống và chất lượng sân. Gia đình có trẻ nhỏ có thể ưu tiên công viên hoặc sân chơi miễn phí. Trong khi đó, người cao tuổi cần những điểm tập luyện thuận tiện, an toàn và dễ tiếp cận. Nếu thiếu một nguồn thông tin tập trung, quá trình tìm kiếm sẽ mất thời gian, còn nhiều cơ sở thể thao chưa được khai thác hết tiềm năng.

Ở góc độ quản lý, bài toán còn rộng hơn. Số lượng cơ sở thể thao chưa phản ánh đầy đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của người dân. Điều quan trọng là các công trình được phân bố ra sao, có thuận tiện cho cộng đồng hay không và khu vực nào đang thiếu không gian vận động.

Vì vậy, xây dựng Bản đồ số cơ sở thể thao là một hướng tiếp cận đáng chú ý. Đây có thể là nền tảng tập hợp dữ liệu về các địa điểm tập luyện trên cùng một hệ thống, kết nối nhu cầu của người dân với nguồn lực hạ tầng hiện có. Giải pháp này góp phần cụ thể hóa định hướng chuyển đổi số trong lĩnh vực thể dục thể thao, với lợi ích có thể nhìn thấy ngay trong đời sống thường ngày.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Số hóa hạ tầng thể thao - Ảnh 2.

Lễ phát động phong trào toàn dân tập luyện thể thao diễn ra cách đây không lâu

Số hóa cơ sở thể thao: Không chỉ là những điểm đánh dấu trên bản đồ

Một bản đồ số cơ sở thể thao hiệu quả cần vượt xa chức năng hiển thị vị trí. Giá trị cốt lõi nằm ở khả năng cung cấp thông tin đáng tin cậy, giúp người dân lựa chọn địa điểm và hỗ trợ cơ quan quản lý nhìn nhận toàn diện hơn về hệ thống hạ tầng.

Trên bản đồ, mỗi cơ sở có thể được xây dựng thành một hồ sơ dữ liệu riêng, bao gồm địa chỉ, hình ảnh, loại hình thể thao, giờ hoạt động, mức phí, tiện ích đi kèm và thông tin liên hệ. Người dùng có thể lọc kết quả theo môn thể thao, khoảng cách hoặc ngân sách, sau đó lựa chọn địa điểm phù hợp.

Chẳng hạn, một người muốn chơi cầu lông sau giờ làm có thể tìm các sân trong bán kính vài kilomet, so sánh giá thuê và kiểm tra giờ hoạt động. Một phụ huynh muốn cho con học bơi có thể tìm bể bơi, xem thông tin về dịch vụ và liên hệ trước khi đến. Người cao tuổi có thể tìm công viên, sân chơi có thiết bị tập luyện ngoài trời hoặc các điểm vận động gần nơi sinh sống.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Số hóa hạ tầng thể thao - Ảnh 3.

Một người muốn chơi cầu lông sau giờ làm có thể tìm các sân trong bán kính vài kilomet, so sánh giá thuê và kiểm tra giờ hoạt động. Ảnh Cục Thể dục thể thao Việt Nam

Để đáp ứng những nhu cầu khác nhau, phạm vi số hóa cần bao phủ cả ba nhóm cơ sở.

Thứ nhất là các điểm thể thao công cộng như công viên, vườn hoa, sân chơi khu dân cư và thiết bị tập luyện ngoài trời. Đây là nhóm có ý nghĩa đặc biệt đối với thể thao quần chúng, bởi khả năng tiếp cận thường gắn với khoảng cách và chi phí.

Thứ hai là các công trình thể thao chuyên dụng như sân vận động, nhà thi đấu đa năng, bể bơi và trung tâm thể thao. Thông tin về công năng, lịch hoạt động và khả năng phục vụ cộng đồng sẽ giúp người dân sử dụng những công trình này thuận tiện hơn.

Thứ ba là hệ thống cơ sở xã hội hóa, gồm sân bóng đá mini, sân tennis, sân cầu lông, phòng gym, yoga và boxing. Việc đưa nhóm cơ sở này lên bản đồ có thể mở rộng lựa chọn cho người dân, đồng thời tạo thêm kênh tiếp cận khách hàng cho các đơn vị kinh doanh.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Số hóa hạ tầng thể thao - Ảnh 4.

Mô hình tập luyện đại chúng này đã được áp dụng ở nhiều nơi

Tuy nhiên, số lượng điểm được đánh dấu không phải tiêu chí duy nhất để đánh giá thành công. Một bản đồ có nhiều dữ liệu nhưng thiếu thông tin cập nhật, sai địa chỉ hoặc không phản ánh tình trạng hoạt động thực tế sẽ khó tạo được niềm tin. Vì vậy, chất lượng và khả năng duy trì dữ liệu cần được đặt ngang hàng với việc mở rộng phạm vi số hóa.

Kinh nghiệm quốc tế: Kết nối dữ liệu địa điểm với dịch vụ thể thao

Một ví dụ tham khảo là ActiveSG tại Singapore. Nền tảng này cho phép người dân tìm kiếm cơ sở thể thao, đăng ký chương trình rèn luyện và đặt chỗ tại các địa điểm phù hợp. Danh mục cơ sở có thông tin về vị trí, loại hình, giờ hoạt động và tình trạng đóng cửa hoặc bảo trì.

Điểm đáng chú ý là cách tiếp cận không dừng ở việc giới thiệu địa điểm. Thông tin về cơ sở được kết nối với dịch vụ thực tế, giúp người dân chuyển từ khâu tìm kiếm sang đăng ký hoạt động hoặc đặt sân. Theo trang giới thiệu hệ thống của Chính phủ Singapore, nền tảng ActiveSG ghi nhận 397.748 người dùng hoạt động trong quý I/2025 và 2,96 triệu giờ tập luyện thông qua MyActiveSG+ trong cùng kỳ.

Kinh nghiệm này gợi mở một hướng phát triển cho Việt Nam: Bản đồ số cơ sở thể thao có thể được xây dựng như lớp dữ liệu nền, sau đó từng bước kết nối với các dịch vụ đặt sân, đăng ký lớp học hoặc cập nhật tình trạng hoạt động. Nhờ vậy, nền tảng không chỉ giúp người dân biết một cơ sở nằm ở đâu, mà còn hỗ trợ họ tiếp cận dịch vụ thực tế.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Số hóa hạ tầng thể thao - Ảnh 2.

Giao diện ActiveSG tai Singapore

Dù vậy, không nên sao chép nguyên mô hình của Singapore. Việc triển khai tại Việt Nam cần tính đến sự khác biệt về quy mô địa bàn, cách quản lý cơ sở công cộng, mức độ số hóa của các đơn vị tư nhân và khả năng tiếp cận công nghệ của người dân.

Một kinh nghiệm khác đến từ OpenStreetMap. Đây là nền tảng bản đồ thế giới sử dụng dữ liệu do cộng đồng đóng góp theo giấy phép mở. Mô hình này cho thấy dữ liệu địa điểm có thể được bổ sung từ nhiều nguồn, nhưng với một hệ thống phục vụ quản lý nhà nước, việc tiếp nhận thông tin cộng đồng cần đi kèm quy trình kiểm chứng và xác định trách nhiệm cập nhật.

Hai ví dụ trên gợi ra những nguyên tắc quan trọng: dữ liệu phải dễ tra cứu, thông tin cần được duy trì thường xuyên và nền tảng nên hướng đến nhu cầu sử dụng thực tế. Đây là cơ sở để nghiên cứu một mô hình phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Dữ liệu hạ tầng: Cơ sở để nâng cao hiệu quả quản lý

Nếu đối với người dân, lợi ích trực tiếp của bản đồ số là tìm được nơi tập luyện phù hợp, thì với cơ quan quản lý, giá trị lớn hơn nằm ở khả năng khai thác dữ liệu để hoạch định chính sách.

Khi thông tin về cơ sở thể thao được chuẩn hóa và tập hợp trên một hệ thống thống nhất, nhà quản lý có thể quan sát sự phân bố của các công trình theo địa bàn, loại hình và khả năng phục vụ. Việc kết hợp dữ liệu này với thông tin dân cư, quy hoạch đô thị và nhu cầu sử dụng sẽ giúp đánh giá mức độ đáp ứng của hạ tầng tại từng khu vực.

Chẳng hạn, nếu một khu dân cư có mật độ dân số cao nhưng ít sân chơi và điểm tập luyện công cộng, dữ liệu bản đồ có thể giúp nhận diện khoảng trống hạ tầng. Ngược lại, tại nơi có nhiều cơ sở nhưng mức độ sử dụng thấp, cơ quan quản lý có thể xem xét nguyên nhân, từ vị trí chưa thuận tiện, chất lượng công trình đến khả năng tiếp cận dịch vụ.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Số hóa hạ tầng thể thao - Ảnh 6.

Bóng đá vẫn là môn dễ chơi, thu hút người chơi nhất, nhưng cần nhiều cơ sở tốt hơn nữa. Ảnh Cục TDTT

Đây là cơ sở để các quyết định đầu tư, nâng cấp và bảo trì được đưa ra sát thực tế hơn. Thay vì chỉ dựa vào số lượng công trình hiện có, việc hoạch định có thể tính đến khả năng tiếp cận của người dân, tình trạng hoạt động và nhu cầu tại từng khu vực.

Định hướng này cũng phù hợp với tiến trình chuyển đổi số của ngành văn hóa, thể thao và du lịch. Theo thông tin được công bố trên chuyên trang chuyển đổi số của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, kế hoạch chuyển đổi số lĩnh vực thể dục thể thao giai đoạn 2025-2027, định hướng đến năm 2030, đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu các giải pháp số cho ba lĩnh vực: thể thao thành tích cao, thể thao chuyên nghiệp và thể thao cho mọi người.

Bên cạnh đó, kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 03 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề cập nhiệm vụ xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành thể dục thể thao và cơ sở dữ liệu về vận động viên, với thời hạn hoàn thành dự kiến năm 2030.

Những định hướng này cho thấy dữ liệu đang trở thành một thành phần quan trọng trong quá trình hiện đại hóa quản lý ngành. Bản đồ số cơ sở thể thao có thể được nghiên cứu như một lớp dữ liệu không gian bổ trợ, giúp thể hiện trực quan vị trí và đặc điểm của hạ tầng thể thao. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành đã được đề cập trong kế hoạch và đề xuất phát triển một bản đồ số dành riêng cho các cơ sở tập luyện.

Mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp, thúc đẩy kinh tế thể thao

Bản đồ số cũng có thể tạo thêm giá trị cho các cơ sở thể thao tư nhân và hoạt động kinh doanh dịch vụ.

Hiện nay, nhiều sân bóng đá mini, sân cầu lông, phòng gym hoặc cơ sở yoga phục vụ khách hàng trong phạm vi địa phương. Khả năng tiếp cận khách hàng thường phụ thuộc vào vị trí, mức độ nhận diện thương hiệu và hoạt động quảng bá. Khi được đưa lên một nền tảng tra cứu tập trung, các cơ sở có thêm cơ hội tiếp cận người dùng đang thực sự có nhu cầu tập luyện.

Với những người thường xuyên chơi thể thao, việc so sánh địa điểm, giá thuê và thời gian hoạt động giúp lựa chọn dịch vụ thuận tiện hơn. Với chủ cơ sở, thông tin minh bạch có thể hỗ trợ quảng bá, thu hút khách hàng mới và tăng khả năng khai thác sân bãi trong những khung giờ còn trống.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Số hóa hạ tầng thể thao - Ảnh 7.

Việc huấn luyện bơi cũng vô cùng quan trọng trong thể thao cộng đồng cũng như là một hành động phòng ngừa an toàn, nhất là với trẻ em

Trong tương lai, nếu được tích hợp với các hệ thống dịch vụ, bản đồ có thể mở rộng sang đặt sân trực tuyến, đăng ký lớp học, thanh toán hoặc quản lý lịch sử dụng. Các cơ sở tham gia cũng có thể cập nhật lịch hoạt động, thông báo sửa chữa và giới thiệu dịch vụ mới.

Tuy nhiên, để tránh tạo ra một nền tảng chỉ ưu tiên những đơn vị có khả năng quảng cáo, cần xây dựng nguyên tắc hiển thị minh bạch. Cơ sở công cộng, điểm tập luyện miễn phí và địa điểm phục vụ các nhóm yếu thế cần được thể hiện đầy đủ, không bị lu mờ bởi các dịch vụ thương mại.

Sự cân bằng giữa lợi ích cộng đồng và nhu cầu kinh doanh sẽ quyết định khả năng phát triển bền vững của nền tảng. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là gia tăng lượng khách cho các cơ sở thể thao, mà còn mở rộng cơ hội vận động thể chất cho người dân.

Bài toán triển khai: Dữ liệu chính xác, vận hành bền vững

Để Bản đồ số cơ sở thể thao phát huy hiệu quả, việc xây dựng nền tảng công nghệ mới chỉ là bước khởi đầu. Thách thức lớn hơn nằm ở khâu thu thập, chuẩn hóa, xác minh và cập nhật dữ liệu.

Trước hết, cần thống nhất bộ tiêu chí thông tin cho từng nhóm cơ sở. Một công viên có thiết bị tập luyện ngoài trời sẽ cần những trường dữ liệu khác với bể bơi, nhà thi đấu hay phòng gym. Bên cạnh vị trí và thông tin liên hệ, dữ liệu cần thể hiện khả năng tiếp cận, mức phí, giờ hoạt động và tình trạng vận hành nếu có.

Tiếp đó, cần xác định trách nhiệm cập nhật. Các đơn vị quản lý công trình công cộng có thể cung cấp thông tin thuộc phạm vi phụ trách; chủ cơ sở tư nhân được khuyến khích cập nhật hồ sơ của mình; cơ quan quản lý thực hiện kiểm tra, đối soát và xử lý những thông tin sai lệch. Người dân cũng có thể được tạo điều kiện phản ánh địa điểm đóng cửa, thông tin không chính xác hoặc chất lượng dịch vụ có vấn đề.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Số hóa hạ tầng thể thao - Ảnh 8.

Để sử dụng rộng rãi, giao diện cần thân thiện với điện thoại. Ảnh ActiveSG

Một yêu cầu khác là bảo đảm khả năng sử dụng rộng rãi. Giao diện cần thân thiện với điện thoại, dễ tìm kiếm và không đòi hỏi người dùng phải có kỹ năng công nghệ cao. Với các nhóm người cao tuổi hoặc người khuyết tật, thông tin về lối tiếp cận, điều kiện sử dụng và tiện ích hỗ trợ có thể tạo ra khác biệt đáng kể.

Cuối cùng, dự án cần có nguồn lực duy trì lâu dài, cơ chế bảo vệ dữ liệu và tiêu chí đánh giá hiệu quả. Những chỉ số như tỷ lệ cơ sở có thông tin đầy đủ, mức độ cập nhật, lượng người sử dụng, tỷ lệ thông tin được xác minh và mức độ cải thiện khả năng tiếp cận hạ tầng có thể giúp đánh giá chất lượng nền tảng.

Đặc biệt, bản đồ số không thể thay thế việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất. Công cụ này chỉ giúp nhìn rõ hơn những nơi đang thiếu hạ tầng hoặc chưa khai thác hiệu quả công trình hiện có. Muốn giải quyết tận gốc tình trạng thiếu sân chơi, vẫn cần nguồn lực đầu tư, quy hoạch hợp lý và cơ chế quản lý phù hợp.

Đưa chuyển đổi số đến gần đời sống thể thao

Nghị quyết 57-NQ/TW mở ra định hướng thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như những động lực quan trọng của phát triển đất nước. Trong lĩnh vực thể dục thể thao, một giải pháp có giá trị không nhất thiết phải bắt đầu từ những công nghệ phức tạp. Đôi khi, việc tổ chức dữ liệu tốt hơn và giải quyết những bất tiện thường ngày cũng có thể tạo ra tác động thiết thực.

Bản đồ số cơ sở thể thao là một hướng tiếp cận như vậy. Khi thông tin về sân chơi, công viên, bể bơi, nhà thi đấu và các điểm tập luyện được tập hợp, người dân có thêm lựa chọn để rèn luyện sức khỏe. Cơ quan quản lý có thêm căn cứ để đánh giá hạ tầng, còn doanh nghiệp có cơ hội kết nối với khách hàng.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Số hóa hạ tầng thể thao - Ảnh 9.

Trong lĩnh vực thể dục thể thao, một giải pháp có giá trị không nhất thiết phải bắt đầu từ những công nghệ phức tạp. Ảnh TTXVN

Từ ý tưởng đến một nền tảng vận hành hiệu quả vẫn cần quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng, đặc biệt về dữ liệu, cơ chế phối hợp và nguồn lực duy trì. Nhưng nếu được xây dựng trên nhu cầu thực tế, bản đồ số có thể trở thành cầu nối giữa hạ tầng thể thao và cộng đồng, góp phần thúc đẩy phong trào tập luyện thường xuyên.

Thước đo cuối cùng của chuyển đổi số không chỉ là số lượng dữ liệu được số hóa, mà còn là việc người dân có thể tìm được nơi tập luyện thuận tiện hơn, các công trình được khai thác hiệu quả hơn và nguồn lực đầu tư được sử dụng đúng nhu cầu hơn.

Tuấn Cương