16/10/2026 15:21 GMT+7
Thể thao thành tích cao ngày càng phụ thuộc vào khoa học và công nghệ, từ phân tích từng chuyển động, kiểm soát thể lực đến dinh dưỡng và phục hồi.

Thể thao thành tích cao ngày càng phụ thuộc vào khoa học và công nghệ, từ phân tích từng chuyển động, kiểm soát thể lực đến dinh dưỡng và phục hồi.

Việt Nam đã có những bước đi ban đầu, nhưng bài toán đặt ra không chỉ là đầu tư thiết bị hiện đại mà còn phải xây dựng hệ thống nghiên cứu, phân tích dữ liệu và ứng dụng đồng bộ, tạo lợi thế thực chất cho vận động viên.

Việt Nam đã có công nghệ, nhưng cần làm rõ mức độ đồng bộ

Trong những năm gần đây, khoa học và công nghệ từng bước được đưa vào quá trình huấn luyện thể thao thành tích cao tại Việt Nam. Các thiết bị đo lường, phần mềm quản lý dữ liệu và công cụ đánh giá thể lực đã mở ra khả năng theo dõi vận động viên bằng những chỉ số cụ thể, thay vì chỉ dựa vào quan sát và kinh nghiệm của huấn luyện viên.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Phòng thí nghiệm thể thao số và khoảng cách thể thao Việt Nam với thế giới - Ảnh 1.

Hình ảnh vận động viên gắn cảm biến, đứng trên bàn đo lực và được hệ thống camera ghi nhận chuyển động. Minh họa trực quan cách công nghệ giúp đánh giá kỹ thuật và hiệu suất vận động.

Tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia, các công cụ được giới thiệu trong hoạt động ứng dụng khoa học công nghệ gồm hệ thống Metamax phục vụ kiểm tra khả năng hấp thụ oxy, thiết bị Fusion Sports đánh giá tốc độ và lực nhảy, cảm biến nhịp tim Polar cùng phần mềm Polar Flow và TrainingPeaks hỗ trợ quản lý dữ liệu huấn luyện. Đây là những công cụ giúp lượng hóa năng lực thể chất, theo dõi quá trình tập luyện và cung cấp thêm căn cứ để điều chỉnh giáo án.

Ý nghĩa của những công nghệ này không chỉ nằm ở việc cung cấp các con số. Khi được sử dụng đúng quy trình, dữ liệu về thể lực, sức mạnh, tốc độ và khả năng hồi phục giúp ban huấn luyện nhận diện điểm mạnh, hạn chế của từng vận động viên, từ đó xây dựng chương trình tập luyện phù hợp hơn. Đây là bước chuyển quan trọng từ huấn luyện dựa chủ yếu vào kinh nghiệm sang phương pháp kết hợp kinh nghiệm với bằng chứng khoa học.

Một hướng đi mới cũng được thể hiện qua chương trình hợp tác giữa Cục Thể dục thể thao Việt Nam và Công ty cổ phần công nghệ DreaMax. Theo thông tin công bố ngày 12/9/2025, hai bên hướng tới ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong huấn luyện bắn súng, bắn cung, taekwondo và boxing. Hệ thống được định hướng phân tích những yếu tố chuyên môn như đường bắn, độ ổn định, độ chính xác và các chỉ số liên quan đến quá trình tập luyện.

Những bước đi này cho thấy Việt Nam đã bắt đầu tiếp cận các phương thức huấn luyện dựa trên dữ liệu. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa việc có thiết bị, triển khai thử nghiệm công nghệ và vận hành một hệ thống khoa học thể thao đồng bộ. Việc một giải pháp được đưa vào chương trình hợp tác chưa đồng nghĩa công nghệ đó đã được triển khai rộng rãi hoặc chứng minh hiệu quả trên diện rộng.

Đây cũng là vấn đề cần được làm rõ khi đánh giá thực trạng trong nước. Các dữ liệu về sinh lý, kỹ thuật, dinh dưỡng, chấn thương và phục hồi đã được kết nối trong cùng một hồ sơ vận động viên hay chưa? Huấn luyện viên có thể tiếp cận kết quả phân tích kịp thời để điều chỉnh giáo án không? Đội ngũ chuyên gia có đủ năng lực diễn giải dữ liệu và chuyển hóa thành giải pháp chuyên môn hay không?

Về định hướng chính sách, Quyết định 816/QĐ-TTg ngày 7/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển các môn thể thao trọng điểm chuẩn bị tham dự ASIAD và Olympic giai đoạn 2026–2045. Chương trình đặt mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh huy chương, đồng thời nhấn mạnh việc hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị huấn luyện, dinh dưỡng và các biện pháp phục hồi.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Phòng thí nghiệm thể thao số và khoảng cách thể thao Việt Nam với thế giới - Ảnh 2.

Chương trình Phân tích Vận động chuyên sâu hoàn toàn mới dành riêng cho VĐV Golf tại Vinmec ứng dụng phương pháp Biomechanics tiên tiến.

Như vậy, vấn đề của thể thao Việt Nam không phải là chưa nhận thức được vai trò của công nghệ, mà là làm thế nào để chuyển những định hướng và ứng dụng ban đầu thành năng lực khoa học thể thao được duy trì thường xuyên, có tính liên kết và mang lại hiệu quả thực chất.

Mô hình chuyển đổi số ở các nền thể thao tiên tiến

Tại những quốc gia có nền thể thao thành tích cao phát triển, khoa học thể thao không đơn thuần là hoạt động kiểm tra thể lực trong phòng thí nghiệm. Đó là hệ thống hỗ trợ chuyên môn, kết nối sinh cơ học, sinh lý vận động, phân tích thành tích, dinh dưỡng, y học thể thao và phục hồi nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể của từng vận động viên.

Australia là một ví dụ tiêu biểu với Viện Thể thao Australia (AIS). Theo thông tin chính thức, cơ sở này có các phòng thí nghiệm sinh lý và sinh cơ học, phòng xét nghiệm huyết học, khu tập luyện sức mạnh, bể bơi phục vụ huấn luyện và kiểm tra, cùng trung tâm phục hồi chuyên biệt. Thiết bị khoa học và y học thể thao được bảo đảm chất lượng, hiệu chuẩn theo yêu cầu của thể thao thành tích cao.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Phòng thí nghiệm thể thao số và khoảng cách thể thao Việt Nam với thế giới - Ảnh 3.

Vận động viên thực hiện bài kiểm tra thể lực trong phòng thí nghiệm, sử dụng máy chạy hoặc thiết bị đo hô hấp để đánh giá khả năng vận động và sức bền - Ảnh ABC News

Trong mô hình này, phòng thí nghiệm không tồn tại tách biệt với hoạt động huấn luyện. Kết quả kiểm tra có thể giúp chuyên gia xác định khả năng đáp ứng vận động, đánh giá kỹ thuật hoặc tìm ra những yếu tố hạn chế thành tích. Những phát hiện đó trở thành căn cứ để trao đổi với huấn luyện viên, điều chỉnh phương pháp tập luyện và theo dõi sự tiến bộ của vận động viên.

Chẳng hạn, phân tích sinh cơ học có thể sử dụng hệ thống ghi hình chuyển động ba chiều, camera tốc độ cao, tấm đo lực và cảm biến để đánh giá chuyển động, lực tác động cũng như hoạt động cơ. Theo UK Sports Institute (Viện nghiên cứu thể thao Anh quốc), các công cụ này có thể được sử dụng cả trong phòng thí nghiệm lẫn môi trường tập luyện và thi đấu, phục vụ mục tiêu cải thiện thành tích và giảm nguy cơ chấn thương.

Vương quốc Anh cung cấp một mô hình đáng chú ý khác. UK Sports Institute tổ chức 9 nhóm dịch vụ khoa học và y học thể thao, gồm sinh cơ học, phân tích thành tích, dinh dưỡng, sinh lý, vật lý trị liệu, y học thể thao, tâm lý thể thao, sức mạnh – thể lực và hỗ trợ đời sống vận động viên. Bên cạnh đó là các dịch vụ về dữ liệu, đổi mới và phục hồi thành tích.

Điểm đáng học hỏi ở đây là cách tổ chức chuyên môn theo hướng liên ngành. Một vận động viên gặp vấn đề về hiệu suất không nhất thiết chỉ cần tăng cường độ tập luyện. Nguyên nhân có thể liên quan đến kỹ thuật, tải vận động, dinh dưỡng, tâm lý hoặc tình trạng hồi phục. Khi các chuyên gia có thể phối hợp, giải pháp được xây dựng trên bức tranh toàn diện hơn thay vì xử lý từng vấn đề riêng lẻ.

Tại Mỹ, Ủy ban Olympic và Paralympic Hoa Kỳ (USOPC) phát triển hoạt động hỗ trợ công nghệ, dữ liệu và phân tích thành tích thông qua bộ phận Performance Innovation. Các chương trình như Performance Innovation Fund, International Competitive Analysis Program và nền tảng Athlete 360 hướng tới hỗ trợ vận động viên, huấn luyện viên và các liên đoàn đưa ra quyết định tốt hơn trong tập luyện, thi đấu.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Phòng thí nghiệm thể thao số và khoảng cách thể thao Việt Nam với thế giới - Ảnh 4.

Hình ảnh các chuyên gia phân tích video, dữ liệu thi đấu và thông số kỹ thuật để hỗ trợ huấn luyện viên, vận động viên đưa ra quyết định - Ảnh ABC News

Những mô hình trên không có nghĩa mọi quốc gia tiên tiến đều sử dụng một hệ thống giống nhau. Tuy nhiên, điểm chung là công nghệ được gắn với mục tiêu chuyên môn cụ thể, có đội ngũ đủ năng lực vận hành và có cơ chế đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

Đó cũng là yếu tố quyết định giá trị của phòng thí nghiệm thể thao số: không phải số lượng máy móc hay mức độ hiện đại của thiết bị, mà là khả năng biến dữ liệu thành thông tin có ích, rồi chuyển thông tin đó thành quyết định huấn luyện phù hợp.

Khoảng cách giữa Việt Nam và các nền thể thao tiên tiến

Từ thực trạng trong nước và kinh nghiệm quốc tế, có thể thấy khoảng cách cần thu hẹp không nên chỉ được đo bằng số lượng thiết bị hiện đại. Điều quan trọng hơn là mức độ tích hợp giữa hạ tầng, nhân lực, dữ liệu và quy trình ứng dụng khoa học thể thao.

Trước hết là khoảng cách về tổ chức và khai thác công nghệ. Việt Nam đã có những thiết bị phục vụ kiểm tra thể lực, theo dõi vận động và quản lý dữ liệu, đồng thời triển khai các định hướng ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, cần tiếp tục xác minh mức độ phổ biến, tần suất sử dụng và khả năng kết nối các công cụ này giữa các trung tâm, đội tuyển. Nếu mỗi đơn vị vận hành một hệ thống riêng, dữ liệu không thể chia sẻ hoặc thiếu chuẩn chung, hiệu quả tổng thể sẽ bị hạn chế.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Phòng thí nghiệm thể thao số và khoảng cách thể thao Việt Nam với thế giới - Ảnh 5.

Hệ thống Motion Lab tiên tiến được trang bị tại Vinmec thường chỉ có tại các trung tâm y tế hàng đầu trên thế giới - ảnh Vinmec

Thứ hai là nguồn nhân lực khoa học thể thao. Thiết bị hiện đại không thể tự đưa ra những quyết định huấn luyện tối ưu nếu thiếu chuyên gia có khả năng phân tích và diễn giải kết quả. Thể thao thành tích cao cần sự phối hợp giữa huấn luyện viên, chuyên gia sinh cơ học, sinh lý vận động, dinh dưỡng, y học thể thao, phục hồi và phân tích dữ liệu. Vì vậy, đầu tư công nghệ phải đi cùng đào tạo nhân lực, tăng cường hợp tác với các trường đại học, cơ sở nghiên cứu và đơn vị y học thể thao.

Thứ ba là khả năng kết nối dữ liệu thành hồ sơ vận động viên xuyên suốt. Các thông tin về thành tích, tải vận động, thể lực, dinh dưỡng, chấn thương và phục hồi cần được thu thập có hệ thống, cập nhật thường xuyên và bảo vệ đúng quy định. Khi có dữ liệu đủ tin cậy, ban huấn luyện mới có thể đánh giá tiến bộ theo thời gian, nhận diện những thay đổi bất thường và điều chỉnh chương trình tập luyện phù hợp. Dữ liệu cũng cần được sử dụng có kiểm soát, bảo đảm quyền riêng tư và giới hạn quyền truy cập.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần lựa chọn hướng đầu tư có trọng điểm thay vì dàn trải. Một số trung tâm cấp Quốc gia có thể được phát triển thành đầu mối cung cấp dịch vụ sinh cơ học, sinh lý vận động, đánh giá thể lực và phục hồi chuyên sâu. Các đội tuyển được trang bị bộ công cụ phù hợp với đặc thù từng môn, trong khi một nền tảng dữ liệu dùng chung giúp kết nối kết quả kiểm tra và hồ sơ vận động viên.

Định hướng này có thể gắn với Chương trình phát triển các môn thể thao trọng điểm giai đoạn 2026–2045. Trong thông tin triển khai công bố ngày 22/6/2026, Cục Thể dục thể thao Việt Nam xác định 9 môn tập trung đầu tư gồm bắn súng, bắn cung, cử tạ, xe đạp, đua thuyền, điền kinh, bơi, karate và cầu mây.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Phòng thí nghiệm thể thao số và khoảng cách thể thao Việt Nam với thế giới - Ảnh 6.

Vận động viên thực hiện bài kiểm tra sức bật trên bàn đo lực, trong khi chuyên gia theo dõi dữ liệu trên màn hình. Ảnh giúp minh họa việc chuyển các động tác thể thao thành những chỉ số có thể đo lường - Ảnh ABC News

Việc tập trung vào những môn được lựa chọn tạo điều kiện để xác định nhu cầu công nghệ cụ thể. Bắn súng và bắn cung có thể ưu tiên phân tích độ ổn định, kỹ thuật và khả năng kiểm soát động tác; điền kinh, bơi và đua thuyền cần chú trọng sinh lý vận động, hiệu suất kỹ thuật và tải tập luyện; cử tạ cần đánh giá sức mạnh, tốc độ thực hiện động tác và khả năng phục hồi. Cách tiếp cận này giúp đầu tư gắn với yêu cầu thực tế thay vì chạy theo công nghệ đắt tiền.

Đồng thời, hiệu quả cần được đánh giá bằng những chỉ số cụ thể: số vận động viên được kiểm tra định kỳ, mức độ sử dụng dữ liệu trong điều chỉnh giáo án, sự cải thiện các chỉ số chuyên môn và hiệu quả phục hồi. Chi phí vận hành, bảo trì, đào tạo nhân lực và bảo đảm chất lượng dữ liệu cũng phải được tính ngay từ đầu.

Khoảng cách giữa Việt Nam và các nền thể thao tiên tiến không thể được thu hẹp chỉ bằng một vài thiết bị hiện đại. Điều cần thiết là xây dựng hệ thống khoa học thể thao có khả năng kết nối con người, công nghệ và dữ liệu, phục vụ trực tiếp quá trình huấn luyện. Khi đầu tư đúng trọng tâm và đo lường được hiệu quả, phòng thí nghiệm thể thao số mới thực sự trở thành nền tảng nâng cao thành tích và năng lực cạnh tranh quốc tế của thể thao Việt Nam.

Trần Giáp