22/10/2026 13:24 GMT+7
Thể thao cơ sở muốn phát triển bền vững không chỉ cần thêm sân bãi, nhà tập hay dụng cụ vận động, mà còn phải xác định chính xác nhu cầu của người dân và khả năng khai thác các công trình hiện có.

Thể thao cơ sở muốn phát triển bền vững không chỉ cần thêm sân bãi, nhà tập hay dụng cụ vận động, mà còn phải xác định chính xác nhu cầu của người dân và khả năng khai thác các công trình hiện có. 

Khi dữ liệu số trở thành căn cứ hoạch định chính sách, việc phân bổ nguồn lực cho thể dục thể thao (TDTT) có thể chuyển từ cách làm dựa trên thống kê hành chính sang mô hình quản lý theo nhu cầu thực tế, qua đó nâng cao hiệu quả đầu tư và mở rộng cơ hội vận động cho cộng đồng.

Từ thống kê đến bức tranh thực chất về thể thao cơ sở

Thể thao cơ sở là nền tảng của phong trào TDTT quần chúng, góp phần nâng cao sức khỏe và chất lượng sống. Tuy nhiên, số lượng công trình hay kinh phí đầu tư chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả phát triển thể thao. Điều quan trọng hơn là người dân có thể tiếp cận các thiết chế thuận lợi đến đâu, tần suất sử dụng như thế nào và những nhu cầu nào chưa được đáp ứng.

Một địa phương có nhiều sân bãi chưa chắc đã có phong trào thể thao phát triển tương xứng nếu công trình xuống cấp, nằm xa khu dân cư hoặc không phù hợp với nhu cầu. Ngược lại, tỷ lệ người tập luyện thấp có thể xuất phát từ việc thiếu không gian công cộng, chi phí sử dụng cao hoặc thời gian hoạt động chưa phù hợp, thay vì người dân ít quan tâm đến thể thao.

Theo thông tin được Cổng Thông tin điện tử Chính phủ công bố ngày 25/8/2025, tỷ lệ người dân tập luyện TDTT thường xuyên tăng từ 34,4% năm 2020 lên 37,8% năm 2024. Số câu lạc bộ thể thao cơ sở cũng tăng từ 83.235 lên 103.747 trong cùng giai đoạn.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Phân bổ nguồn lực thể thao bằng dữ liệu - Ảnh 1.

Tỷ lệ người dân tập luyện TDTT thường xuyên tăng từ 34,4% năm 2020 lên 37,8% năm 2024, và dự báo còn tăng nữa. Ảnh Thắng Trần

Những con số này phản ánh xu hướng phát triển của phong trào trên phạm vi cả nước, nhưng chưa đủ để xác định địa bàn nào cần được ưu tiên đầu tư. Tỷ lệ người tập luyện tăng không có nghĩa mọi địa phương đều tiến bộ như nhau; số câu lạc bộ gia tăng cũng chưa cho biết đầy đủ hiệu quả hoạt động hay số người tham gia thường xuyên.

Vì vậy, cơ quan quản lý cần kết nối dữ liệu về dân số, tỷ lệ người tập luyện, nhu cầu theo từng môn thể thao, hiện trạng cơ sở vật chất và khả năng tiếp cận của từng nhóm dân cư. Hệ thống dữ liệu cần trả lời được những câu hỏi cụ thể: Khu dân cư nào đông trẻ em nhưng thiếu sân chơi? Địa bàn nào có nhiều người cao tuổi nhưng chưa có không gian vận động phù hợp? Công trình nào thường xuyên quá tải, trong khi công trình khác chưa được khai thác hết công suất?

Khi những thông tin này được đặt trong cùng một hệ thống, dữ liệu số sẽ giúp nhận diện chính xác hơn những khoảng trống trong phát triển thể thao, tạo cơ sở cho việc hoạch định chính sách sát thực tế.

Phân bổ nguồn lực theo nhu cầu thực tế

Một trong những giá trị thiết thực nhất của dữ liệu số là hỗ trợ chính quyền xác định thứ tự ưu tiên đầu tư. Trong điều kiện ngân sách còn hạn chế, lựa chọn đúng công trình, địa điểm và nhóm đối tượng có ý nghĩa không kém việc gia tăng tổng mức đầu tư.

Nếu chỉ căn cứ vào quy mô dân số hoặc số lượng thiết chế hiện có, những địa bàn có đặc điểm khác biệt dễ bị đánh giá chưa đầy đủ. Một xã có địa bàn rộng, dân cư phân tán có thể cần nhiều điểm tập luyện quy mô nhỏ, trong khi phường đông dân có thể cần công trình đa năng. Các khu vực khó khăn cũng cần được xem xét trên cơ sở điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng tiếp cận dịch vụ thể thao.

Bản đồ số cơ sở TDTT có thể hỗ trợ quá trình này. Khi vị trí sân vận động, nhà tập, sân chơi công cộng và câu lạc bộ được số hóa, kết hợp với dữ liệu dân cư và giao thông, cơ quan quản lý có thể xác định những khu vực chưa được phục vụ đầy đủ.

Chẳng hạn, nếu một khu dân cư đông người nhưng thiếu điểm tập luyện, địa phương có thể cân nhắc xây dựng sân chơi nhỏ hoặc bố trí thiết bị thể thao công cộng. Nếu nhà tập hiện có ít người sử dụng do lịch hoạt động chưa phù hợp, điều chỉnh giờ mở cửa hoặc tổ chức thêm các lớp thể thao cộng đồng có thể hiệu quả hơn xây dựng công trình mới.

Cách tiếp cận này giúp chuyển từ tư duy đầu tư theo số lượng công trình sang đầu tư theo nhu cầu và hiệu quả phục vụ. Dữ liệu cũng cho phép thiết kế chính sách phù hợp với từng nhóm dân cư: khu vực có đông trẻ em cần sân chơi và hoạt động thể thao phù hợp lứa tuổi; nơi có nhiều người cao tuổi cần không gian vận động an toàn; các khu công nghiệp cần xem xét nhu cầu tập luyện ngoài giờ làm việc. Với vùng nông thôn, miền núi, khoảng cách địa lý, điều kiện đi lại và khả năng tổ chức hoạt động tại chỗ cần được tính đến.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Phân bổ nguồn lực thể thao bằng dữ liệu - Ảnh 2.

Một trận đấu trong khuôn khổ giải bóng chuyền hơi chào mừng ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10 xã Hữu Liên, Lạng Sơn. Ảnh Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn

Chỉ thị 354/CT-BVHTTDL năm 2025 cho biết tỷ lệ người dân tập luyện TDTT thường xuyên tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tăng từ khoảng 13,24% năm 2020 lên 16,18% năm 2024. Khoảng cách so với mức bình quân cả nước đặt ra yêu cầu có giải pháp phù hợp hơn với điều kiện từng vùng.

Tuy nhiên, tỷ lệ người tập luyện thấp không nên là căn cứ duy nhất để quyết định đầu tư. Cơ quan quản lý cần đối chiếu chỉ số này với hiện trạng cơ sở vật chất, nhu cầu chưa được đáp ứng, điều kiện kinh tế - xã hội và những rào cản tiếp cận. Nếu không, những nơi có nhu cầu lớn nhưng người dân chưa đủ điều kiện tham gia thể thao có thể tiếp tục bị đánh giá thấp.

Dữ liệu còn giúp đánh giá hiệu quả sau đầu tư thông qua các chỉ số như số lượt người sử dụng, tần suất khai thác, chi phí vận hành và mức độ hài lòng. So sánh tỷ lệ người tập luyện trước và sau khi công trình đi vào hoạt động cũng giúp địa phương đánh giá tác động thực tế, từ đó điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp.

Như vậy, dữ liệu có thể tạo thành chu trình quản lý khép kín: xác định nhu cầu, lựa chọn phương án đầu tư, theo dõi kết quả và điều chỉnh chính sách. Đây là cơ sở để nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách và chất lượng phục vụ người dân.

Xây dựng hệ sinh thái dữ liệu thể thao cơ sở

Nghị quyết 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu tạo đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đối với lĩnh vực TDTT, định hướng này cần được cụ thể hóa bằng việc đưa dữ liệu vào quá trình thống kê, xây dựng kế hoạch, phân bổ ngân sách và đánh giá hiệu quả chính sách.

Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, được phê duyệt tại Quyết định 1189/QĐ-TTg ngày 15/10/2024, cũng đặt ra định hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý, điều hành ngành thể thao.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Phân bổ nguồn lực thể thao bằng dữ liệu - Ảnh 3.

Thứ trưởng Hoàng Đạo Cương phát biểu tại Lễ triển khai Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Ảnh Cục Thể dục thể thao

Để thực hiện hiệu quả, trước hết cần chuẩn hóa các chỉ tiêu về tỷ lệ người tập luyện, số lượng và tình trạng công trình, công suất khai thác, hoạt động của câu lạc bộ và nhu cầu người dân. Mỗi thiết chế thể thao cần có thông tin về vị trí, quy mô, điều kiện sử dụng và đơn vị quản lý. Dữ liệu phải được cập nhật định kỳ, kiểm tra thường xuyên và có khả năng kết nối giữa các cấp.

Trên nền tảng đó, địa phương có thể phát triển bản đồ số và bảng điều khiển phục vụ công tác điều hành. Khi dữ liệu đủ lớn và bảo đảm chất lượng, các công cụ phân tích nâng cao có thể hỗ trợ dự báo nhu cầu, so sánh phương án đầu tư và xây dựng kế hoạch trung hạn.

Người dân cũng cần được tham gia vào quá trình tạo lập dữ liệu thông qua khảo sát trực tuyến về nhu cầu tập luyện, kênh phản ánh tình trạng công trình và hệ thống công khai thông tin về địa điểm, điều kiện sử dụng. Những nguồn thông tin này có thể bổ sung cho thống kê hành chính, giúp cơ quan quản lý cập nhật nhu cầu thực tế nhanh hơn.

Bên cạnh đó, cần phân định trách nhiệm cập nhật và kiểm tra dữ liệu giữa các cấp, bảo đảm tính thống nhất và bảo vệ thông tin cá nhân. Năng lực số của cán bộ cơ sở cũng phải được nâng cao thông qua đào tạo, đơn giản hóa quy trình báo cáo và thiết kế công cụ phù hợp với điều kiện từng địa phương.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Phân bổ nguồn lực thể thao bằng dữ liệu - Ảnh 4.

Hóc Môn SportMap – Nền tảng bản đồ số thể dục thể thao thông minh, kết nối cộng đồng, hướng tới xây dựng xã số và công dân số

Chuyển đổi số sẽ khó phát huy hiệu quả nếu chỉ dừng ở việc số hóa hồ sơ hoặc xây dựng phần mềm. Điều quan trọng là dữ liệu phải được sử dụng trong các quyết định cụ thể, từ lựa chọn địa điểm đầu tư đến điều chỉnh hoạt động của những công trình hiện hữu.

Đưa dữ liệu trở thành căn cứ của quyết định đầu tư

Dữ liệu số có thể trở thành cầu nối giữa nhu cầu của người dân với quyết định phân bổ nguồn lực của chính quyền. Khi thông tin về người tập luyện, cơ sở vật chất và điều kiện tiếp cận được kết nối, địa phương sẽ có cơ sở tốt hơn để xác định nơi cần xây mới, nơi nên nâng cấp và nơi cần điều chỉnh cách tổ chức hoạt động.

Đây cũng là cách cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW trong lĩnh vực TDTT: không chỉ ứng dụng công nghệ để cải tiến thủ tục hành chính, mà còn sử dụng dữ liệu để đổi mới phương thức hoạch định và thực thi chính sách.

Thước đo cuối cùng của chuyển đổi số không phải là số lượng cơ sở dữ liệu hay bản đồ số được xây dựng, mà là hiệu quả sử dụng nguồn lực và khả năng đáp ứng nhu cầu cộng đồng. Khi dữ liệu thực sự trở thành căn cứ cho các quyết định đầu tư, chuyển đổi số mới góp phần mở rộng cơ hội tập luyện, nâng cao hiệu quả khai thác công trình và tạo ra những thay đổi thiết thực trong đời sống thể thao cơ sở.

Tuấn Cương