25/10/2026 09:51 GMT+7
Thành tích thể thao không chỉ được đo bằng huy chương hay những kỷ lục được xác lập. Đằng sau mỗi dấu mốc còn có hồ sơ vận động viên, biên bản thi đấu, hình ảnh, phim tư liệu và câu chuyện của những người làm nên lịch sử.

Thành tích thể thao không chỉ được đo bằng huy chương hay những kỷ lục được xác lập. Đằng sau mỗi dấu mốc còn có hồ sơ vận động viên, biên bản thi đấu, hình ảnh, phim tư liệu và câu chuyện của những người làm nên lịch sử. 

Khi chuyển đổi số trở thành yêu cầu quan trọng của ngành thể thao, việc bảo tồn khối di sản ấy cần được quan tâm không kém nhiệm vụ xây dựng dữ liệu phục vụ quản lý và huấn luyện hiện tại.

Ký ức thể thao trên môi trường số

Một tấm huy chương tại SEA Games, ASIAD hay Olympic có thể được ghi nhận bằng một dòng trong bảng tổng sắp. Nhưng để tái hiện đầy đủ hành trình đi đến thành tích ấy, chỉ con số là chưa đủ. Cần có kết quả từng vòng đấu, thông tin đối thủ, hồ sơ vận động viên, hình ảnh tại thời điểm thi đấu và những tư liệu giúp xác minh bối cảnh lịch sử.

Với thể thao Việt Nam, những tài liệu này được tích lũy qua nhiều thế hệ. Chúng có thể nằm trong hồ sơ của cơ quan quản lý, liên đoàn thể thao, trung tâm huấn luyện, câu lạc bộ, cơ quan báo chí hoặc bộ sưu tập riêng của vận động viên và gia đình. Mỗi nơi đều có thể nắm giữ một phần ký ức, nhưng muốn ghép nối thành bức tranh đầy đủ, cần có cách tổ chức và tra cứu thống nhất.

Đây cũng là lý do bảo tồn tư liệu thể thao cần được nhìn nhận như một nhiệm vụ dài hạn của chuyển đổi số, thay vì chỉ là công việc kỹ thuật nhằm đưa giấy tờ lên máy tính.

Nghị quyết 57 NQ/TW: Lưu trữ thể thao không nằm ngoài công cuộc chuyển đổi số - Ảnh 1.

Trong thể thao thành tích cao, dữ liệu có giá trị đặc biệt

Thực tế, ngành thể dục thể thao Việt Nam đã có những bước đi cụ thể. Báo cáo về kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm 2026, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin - Truyền thông TDTT Doãn Hữu Bình cho biết: Hạ tầng công nghệ thông tin tại trung tâm tích hợp dữ liệu được tập trung mua sắm, nâng cấp, bổ sung trang thiết bị và bản quyền phần mềm, kết hợp thuê đường truyền chuyên dụng nhằm đảm bảo hệ thống vận hành thông suốt. Công tác quản trị, bảo mật và cập nhật bản vá lỗi cho hệ thống máy chủ được thực hiện thường xuyên, giữ cho các trang thông tin điện tử và phần mềm nghiệp vụ của ngành hoạt động ổn định. 

Hoạt động số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu cũng ghi nhận những chuyển biến tích cực. Toàn bộ các văn bản pháp quy của ngành cùng các ấn phẩm Tạp chí thể thao đã được số hóa bài bản, tạo kho tra cứu trực tuyến hữu ích. Đối với dữ liệu thi đấu, đơn vị đã chủ động phân loại danh mục, phối hợp chặt chẽ với các liên đoàn, hiệp hội thể thao quốc gia và phòng chuyên môn để cập nhật thành công kết quả của 42 giải đấu thành tích cao lên hệ thống dùng chung.

Đây là kết quả đáng chú ý, cho thấy những dữ liệu chuyên môn vốn được lưu trong hồ sơ và tài liệu đang từng bước được chuyển sang môi trường số. Tuy nhiên, số trang tài liệu được cập nhật chưa thể phản ánh toàn bộ mức độ hoàn thiện của một kho lưu trữ lịch sử. Điều quan trọng hơn là dữ liệu bao phủ những giai đoạn nào, có thể tra cứu ra sao, được xác minh bằng nguồn nào và có được bảo quản để sử dụng trong nhiều thập kỷ hay không.

Nói cách khác, số hóa là bước khởi đầu, không phải đích đến.

Một bảng kết quả được quét thành tệp PDF có thể giúp giảm nguy cơ hư hỏng bản giấy và thuận tiện hơn khi chia sẻ. Nhưng nếu tài liệu không có thông tin về giải đấu, ngày thi đấu, nội dung, vận động viên và nguồn lưu trữ, việc tìm kiếm vẫn khó khăn. Nếu tệp chỉ tồn tại trên một máy tính hoặc một hệ thống không được duy trì, nguy cơ mất dữ liệu vẫn còn.

Với ảnh và video, thách thức phức tạp hơn. Những băng ghi hình cũ, đĩa quang, ảnh âm bản hoặc tệp kỹ thuật số có thể cần thiết bị chuyên dụng để đọc, phục hồi và chuyển đổi. Bản sao lưu cũng không tự động bảo đảm khả năng sử dụng lâu dài nếu định dạng tệp trở nên lỗi thời hoặc không còn phần mềm tương thích.

Vì vậy, câu hỏi đặt ra không chỉ là thể thao Việt Nam đã số hóa được bao nhiêu tài liệu, mà còn là bao nhiêu tư liệu lịch sử đã được kiểm kê, xác minh, sao lưu và tổ chức để công chúng có thể tìm thấy khi cần.

Khi dữ liệu phân tán, lịch sử khó được tái hiện đầy đủ

Một trong những thách thức lớn nhất của việc xây dựng bộ nhớ số thể thao là dữ liệu không chỉ thuộc về một cơ quan. Kết quả thi đấu có thể do ban tổ chức hoặc liên đoàn quản lý; hồ sơ vận động viên nằm tại đơn vị chủ quản; ảnh và video thuộc kho tư liệu của báo chí, đài truyền hình hoặc nhà cung cấp bản quyền. Những nguồn này bổ sung cho nhau, nhưng không phải lúc nào cũng có chung phương thức lưu trữ và tra cứu.

Một vận động viên có thể được ghi nhận bằng nhiều cách viết tên trong các tài liệu khác nhau. Một giải đấu có thể có bảng kết quả chính thức, bản tin báo chí và video truyền hình, nhưng thiếu mã định danh để liên kết các nguồn. Khi đó, người nghiên cứu phải tìm kiếm thủ công, đối chiếu từng tài liệu và xác minh lại thông tin.

Bài toán càng phức tạp khi cần phục dựng lịch sử của những môn thể thao có ít tư liệu công khai hoặc các giải đấu diễn ra từ nhiều thập kỷ trước. Nếu không có quy trình thống nhất để tiếp nhận, mô tả và kiểm chứng tài liệu, những mảnh ghép lịch sử có thể tiếp tục nằm rời rạc trong các kho riêng.

Nghị quyết 57 NQ/TW: Lưu trữ thể thao không nằm ngoài công cuộc chuyển đổi số - Ảnh 2.

Đại hội thể thao toàn quốc lần thứ nhất tổ chức năm 1985. Ảnh: TTXVN

Đáng chú ý, dự án xây dựng Nền tảng số thể thao Việt Nam được Cục Thể dục thể thao Việt Nam giới thiệu định hướng số hóa có chọn lọc hồ sơ giấy phát sinh từ năm 2015 đến nay, trước mắt tập trung vào chín môn thể thao trọng điểm. Các nhóm dữ liệu được đề cập gồm hồ sơ vận động viên, huấn luyện viên, thành tích thi đấu và y sinh thể thao. Dự án hướng đến hình thành hệ thống dữ liệu chuyên ngành thống nhất, phục vụ quản lý, huấn luyện và khai thác lâu dài.

Đây là bước tiến quan trọng, nhưng cũng mở ra một câu hỏi về phạm vi bảo tồn: những tài liệu có giá trị lịch sử trước năm 2015 sẽ được xử lý ra sao? Chúng có thể đã được lưu tại các cơ quan khác, vì vậy cần kiểm kê trước khi xác định phần nào còn thiếu, phần nào cần số hóa bổ sung và phần nào cần ưu tiên phục hồi.

Cũng cần phân biệt cơ sở dữ liệu phục vụ điều hành với kho lưu trữ lịch sử. Hệ thống quản lý hiện tại ưu tiên thông tin cần thiết cho công tác tuyển chọn, huấn luyện, đánh giá thành tích và tổ chức thi đấu. Trong khi đó, kho di sản thể thao phải giữ được cả những tài liệu không còn giá trị điều hành trực tiếp nhưng có ý nghĩa đối với lịch sử, nghiên cứu và văn hóa.

Một biên bản thi đấu cũ, chẳng hạn, có thể không giúp huấn luyện viên điều chỉnh giáo án hôm nay, nhưng lại là nguồn quan trọng để xác minh một kỷ lục hoặc nghiên cứu sự phát triển của một môn thể thao. Giá trị của tài liệu không nên chỉ được đánh giá bằng mức độ hữu ích trước mắt.

Bởi vậy, mục tiêu không nhất thiết là đưa toàn bộ dữ liệu về một máy chủ duy nhất. Điều cần thiết hơn là có chuẩn chung, danh mục thống nhất, cơ chế liên kết và quy định rõ trách nhiệm bảo tồn. Dữ liệu có thể được lưu tại nhiều đơn vị, nhưng người dùng vẫn có thể xác định tài liệu tồn tại ở đâu, ai chịu trách nhiệm và điều kiện tiếp cận như thế nào.

Thế giới lưu giữ di sản thể thao như thế nào?

Ở cấp độ quốc tế, Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) cho thấy bảo tồn lịch sử có thể trở thành một hoạt động chuyên môn độc lập, gắn với nghiên cứu và phổ biến tri thức.

Trung tâm Nghiên cứu Olympic được IOC thành lập năm 1982, với mục tiêu thúc đẩy hiểu biết, giáo dục và nghiên cứu về phong trào Olympic. Trung tâm thu thập, chia sẻ tri thức, hỗ trợ hoạt động học thuật và cung cấp quyền tiếp cận các bộ sưu tập thông qua Olympic World Library.

Nghị quyết 57 NQ/TW: Lưu trữ thể thao không nằm ngoài công cuộc chuyển đổi số - Ảnh 3.

Kho lưu trữ Olympic có hơn 60.000 giờ nội dung nghe nhìn, bao quát các kỳ Olympic hiện đại từ những giai đoạn đầu đến Paris 2024.

Quy mô kho tư liệu nghe nhìn của IOC cũng cho thấy giá trị của việc bảo tồn có hệ thống. Theo thông báo về thỏa thuận khai thác kho hình ảnh, kho lưu trữ Olympic có hơn 60.000 giờ nội dung nghe nhìn, bao quát các kỳ Olympic hiện đại từ những giai đoạn đầu đến Paris 2024. Từ năm 2025 đến 2028, Infront phối hợp với IOC trong hoạt động khai thác thương mại kho tư liệu này.

Điều đáng chú ý là tư liệu lịch sử không chỉ được giữ lại để phục vụ nghiên cứu. Chúng còn có thể trở thành nguồn nội dung cho phim tài liệu, chương trình truyền hình và những câu chuyện về các thế hệ vận động viên. Bảo tồn tốt vì thế cũng tạo ra giá trị kinh tế và truyền thông.

Một hướng tiếp cận khác đến từ Liên đoàn Điền kinh Thế giới. Năm 2021, tổ chức này ra mắt Bảo tàng Điền kinh Thế giới (MOWA), một bảo tàng ảo 3D giới thiệu lịch sử môn điền kinh và các kỳ vô địch thế giới. Theo thông tin công bố khi ra mắt, bảo tàng có hơn 60 hiện vật trưng bày và hơn 400 nội dung bổ trợ, gồm văn bản, ảnh và video. Nhiều kỷ vật do vận động viên đóng góp, trong đó có giày thi đấu, trang phục và huy chương.

MOWA cho thấy công nghệ có thể đưa di sản thể thao đến gần công chúng mà không bị giới hạn bởi địa lý. Một đôi giày thi đấu không còn chỉ là hiện vật trong tủ kính; khi được đặt cạnh hình ảnh, kết quả và câu chuyện của chủ nhân, nó trở thành một phần của hành trình lịch sử.

Nghị quyết 57 NQ/TW: Lưu trữ thể thao không nằm ngoài công cuộc chuyển đổi số - Ảnh 4.

Bảo tàng Điền kinh Thế giới (MOWA), một bảo tàng ảo 3D giới thiệu lịch sử môn điền kinh và các kỳ vô địch thế giới.

Trong khi đó, Olympedia là ví dụ về vai trò của các nhà nghiên cứu trong việc xây dựng dữ liệu lịch sử. Theo phần giới thiệu của dự án, nhóm sử gia và chuyên gia thống kê Olympic đã phối hợp từ khoảng năm 1998 để biên soạn dữ liệu kết quả và hồ sơ vận động viên. Nhóm ước tính khối lượng công việc tích lũy tương đương khoảng 250 năm công lao động của một người. Dự án cũng ghi nhận sự đóng góp của vận động viên và thân nhân trong việc bổ sung, sửa lỗi hồ sơ.

Bài học ở đây không nằm ở việc Việt Nam phải xây dựng một hệ thống có quy mô tương tự ngay lập tức. Điều quan trọng là xác định dữ liệu lịch sử cần được biên soạn, kiểm chứng và cập nhật như một công việc liên tục, có sự tham gia của chuyên gia và những người nắm giữ tư liệu.

Các mô hình quốc tế cũng phù hợp với tinh thần của Hiến chương UNESCO về bảo tồn di sản số năm 2003. Văn kiện này xác định tài liệu số bao gồm văn bản, cơ sở dữ liệu, ảnh tĩnh, phim, âm thanh và trang web; đồng thời cảnh báo nguy cơ mất mát do thiết bị, phần mềm lỗi thời và thiếu trách nhiệm duy trì. UNESCO nhấn mạnh việc bảo tồn phải gắn với khả năng tiếp cận cho các thế hệ hiện tại và tương lai, đồng thời tôn trọng quyền của người sáng tạo và quyền riêng tư.

Xây dựng bộ nhớ số từ chuẩn hóa đến bảo tồn lâu dài

Với thể thao Việt Nam, giải pháp trước hết là kiểm kê những gì đang có. Cần lập danh mục tư liệu tại cơ quan quản lý, liên đoàn, câu lạc bộ, trung tâm huấn luyện và các đơn vị báo chí, truyền hình. Việc kiểm kê phải ghi nhận loại tài liệu, thời gian, tình trạng, nguồn gốc, quyền sử dụng và mức độ ưu tiên bảo tồn.

Trên cơ sở đó, ngành thể thao có thể lựa chọn một số môn hoặc giai đoạn lịch sử để thí điểm. Những môn có nhiều thành tích quốc tế, lượng tư liệu lớn hoặc đang lưu giữ nhiều tài liệu trên các vật mang tin cũ có thể được ưu tiên. Mục tiêu là kiểm chứng quy trình trước khi mở rộng, tránh số hóa ồ ạt nhưng thiếu chuẩn chung.

Tiếp theo là chuẩn hóa dữ liệu. Mỗi bản ghi cần có các thông tin cơ bản như tên vận động viên, môn thi đấu, nội dung, giải đấu, địa điểm, thời gian, kết quả và nguồn xác minh. Ảnh, video và tài liệu đi kèm cần được mô tả đủ để tìm kiếm, đồng thời liên kết với hồ sơ hoặc sự kiện tương ứng.

Nghị quyết 57 NQ/TW: Lưu trữ thể thao không nằm ngoài công cuộc chuyển đổi số - Ảnh 5.

Giải điền kinh toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức năm 1976 tại Hà Nội. Ảnh: TRUNG HINH

Với những kỷ lục và thành tích quan trọng, cần lưu nguồn chính thức để đối chiếu. Nếu phát hiện sai khác giữa các tài liệu, hệ thống phải ghi nhận quá trình xác minh và đính chính thay vì âm thầm thay đổi dữ liệu. Cách làm này giúp người dùng phân biệt thông tin đã được xác nhận với dữ liệu còn cần kiểm tra.

Bảo tồn lâu dài cũng đòi hỏi quy trình kỹ thuật. Tệp gốc cần được giữ nguyên khi có thể; bản sao phục vụ truy cập nên được tạo riêng. Dữ liệu quan trọng cần có nhiều bản sao dự phòng ở các vị trí độc lập, được kiểm tra định kỳ để phát hiện hư hỏng. Những định dạng có nguy cơ lỗi thời phải được đánh giá và chuyển đổi có kiểm soát, kèm hồ sơ ghi lại quá trình thực hiện.

Một cổng tra cứu chung có thể đóng vai trò cửa ngõ để người dùng tìm kiếm dữ liệu từ nhiều đơn vị. Không nhất thiết mọi tệp phải nằm trên cùng một hệ thống, nhưng cần thống nhất cách mô tả và liên kết. Công chúng có thể tiếp cận kết quả thi đấu, kỷ lục và tư liệu được phép công khai; nhà nghiên cứu có thể đăng ký tiếp cận những tài liệu cần điều kiện riêng.

Cùng với đó là bài toán bản quyền và quyền riêng tư. Ảnh vận động viên, phim truyền hình và tư liệu do cá nhân đóng góp không mặc nhiên được phép sử dụng cho mọi mục đích. Hồ sơ sức khỏe, dữ liệu y sinh và thông tin cá nhân cần được bảo vệ theo quy định. Bảo tồn không đồng nghĩa với công khai toàn bộ.

Cuối cùng, cần xác định đơn vị chịu trách nhiệm và nguồn kinh phí thường xuyên. Một dự án có thể hoàn thành khâu số hóa ban đầu, nhưng nếu thiếu nhân lực mô tả tài liệu, kiểm tra dữ liệu, sao lưu và vận hành hệ thống, giá trị của kho lưu trữ sẽ giảm dần theo thời gian.

Nghị quyết 57-NQ/TW đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí động lực quan trọng của phát triển đất nước. Với ngành thể thao, tinh thần ấy phải qua ứng dụng dữ liệu trong huấn luyện hay tổ chức thi đấu lẫn khả năng gìn giữ những thành quả đã được tạo dựng.

Chuyển đổi số chỉ thực sự trọn vẹn khi phục vụ những gì ngành thể thao cần hôm nay và bảo đảm những gì đất nước cần nhớ trong nhiều thập niên tới.

Vũ Mạnh