Hầu hết mọi người đến với nghề Y vì một lý tưởng cao đẹp nào đó. Nhưng với tôi, tình yêu với màu áo trắng bắt đầu từ nỗi sợ hãi tột cùng về cái chết.
Năm 1979, khi đó tôi mới 12 tuổi. Thời kỳ ấy, trẻ con bị giun chui ống mật rất nhiều, và tôi cũng bị căn bệnh đó hành hạ, nằm tại Bệnh viện Xanh Pôn (Saint Paul). Bệnh nặng đến mức tưởng như không qua khỏi. Bố tôi lúc đó đang ở biên giới phía Bắc. Các bác sĩ đã phải nói với mẹ tôi là hãy gọi bố về, vì có thể tôi không qua khỏi.
Mười hai tuổi, nghe người ta nhắc đến hai chữ "sống chết", tôi sợ lắm. Giữa những cơn quặn thắt tưởng chừng đứt ruột gan, hình ảnh nữ bác sĩ, người điều trị trực tiếp cho tôi khi đó hiện lên như một vị cứu tinh. Lúc đấy, mỗi lần bác sĩ đến tiêm thuốc giảm đau Atropin, cơn đau lại dịu đi. Thật là kỳ diệu và tình yêu với màu áo trắng bắt nguồn từ cảm nhận chân thật nhất của một đứa trẻ vừa được kéo về từ cõi chết.
Đến năm cấp 3, cả nhà đều hướng tôi thi vào Đại học Ngoại ngữ vì tôi có năng khiếu. Thầy dạy tiếng Nga cũng dồn tâm huyết huấn luyện và rất kỳ vọng tôi sẽ thi Ngoại ngữ. Nhưng thẳm sâu trong lòng, tôi lại bảo: "Rất thích Y".
Trở ngại lớn nhất của tôi lúc đó là môn Sinh. Đề thi Y Hà Nội năm đó cực kỳ khó, khóa ngay trước tôi cả Hà Nội chỉ có một người được 5,5 điểm môn Sinh. Tôi chùn bước. Nhưng dường như nghề đã chọn mình. Đúng lúc đó, Học viện Quân y về tuyển nữ sinh với số lượng nhiều hơn mọi năm. Và đặc biệt, trường cho phép thi hai khối A và B. Tôi lập tức đăng ký khối A và đỗ vào trường năm 1983. Đó là khóa đông nữ nhất trong lịch sử của Học viện Quân y.
Lúc vào trường tôi chỉ nghĩ mình đi học Y, không hình dung được nhiều về việc vừa làm bộ đội vừa làm y khoa là như thế nào. Cô sinh viên thời bao cấp chỉ nặng vỏn vẹn 36kg bước vào năm thứ nhất rèn luyện quân sự mới thực sự nhận ra mình đã vào quân ngũ. Nhưng chúng tôi lúc đó hoan hỉ lắm, vì vào quân đội được chăm sóc, nuôi dưỡng và quan trọng nhất là tôi được học ngành Y mà mình khao khát.
Sau 6 năm học, tôi vinh dự nằm trong top 10 người tốt nghiệp xuất sắc nhất được Giáo sư Bùi Đại, Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 khi ấy, đích thân lấy từ trên xuống dưới đưa về viện. Năm đó, bệnh viện chủ trương đưa 10 bác sỹ mới về các khoa Cận lâm sàng như siêu âm, điện tim, vi sinh. Nhưng những người trẻ chúng tôi, khi đi học lâm sàng về hồi sức, tim mạch là vô cùng đam mê. Chúng tôi nghĩ đi làm là phải điều trị cấp cứu sao cho người bệnh sống lại thì mới là nghề nghiệp của mình.
Tôi bày tỏ nguyện vọng và may mắn được chọn sang lâm sàng. Lúc ấy chỉ có hai chuyên ngành để nhận về: Nội hô hấp (Phổi) và Nội thần kinh. Ngành Thần kinh cực kỳ khó, đi lâm sàng chỉ riêng việc nhớ đường đi ngoằn ngoèo của 12 đôi dây thần kinh đã là một thử thách khủng khiếp. Bác sĩ học cùng tôi đã chọn khoa Phổi. Tôi không còn sự lựa chọn nào khác, chính thức bước chân vào nội Thần kinh.
Đó là một sự an bài tuyệt vời. Tôi được làm việc dưới sự dẫn dắt của Giáo sư Phan Chúc Lâm, chuyên gia đầu ngành. Hình ảnh thầy cặm cụi khám bệnh cả tiếng đồng hồ, khám từng tí một để định khu tổn thương trong thời kỳ chưa hề có CT hay Cộng hưởng từ đã in sâu vào tâm trí tôi. Tôi đi theo thầy, học cách thầy gõ búa phản xạ, học tác phong và tính kiên trì biện luận chẩn đoán. Càng khó, tôi lại càng đam mê đào sâu.
Nhiều người hỏi tôi, phụ nữ làm thần kinh có quá sức không? Tôi chỉ cười. Đúng là vất vả, vì những ca đột quỵ không chọn giờ hành chính để xảy ra. "Vấn đề không nằm ở chỗ thử thách lớn đến đâu, mà là ở sự chấp nhận hy sinh và bền bỉ nỗ lực"
Khi đứng trước một bệnh nhân đang mất dần ý thức, tôi không chỉ nhìn thấy một ca bệnh, tôi nhìn thấy một gia đình đang đứng bên bờ vực thẳm, điều đó thôi thúc tôi phải tìm ra lời giải bằng mọi giá. Dưới sự dẫn dắt của những người thầy lớn như GS Phan Chúc Lâm, GS Nguyễn Văn Thông và các anh chị đồng nghiệp đi trước, tôi đã học cách "đọc" những tín hiệu từ não bộ, học cách kiên nhẫn với những bệnh nhân mà đôi khi chính họ cũng không còn nhận thức được bản thân.
Thời điểm những năm 90, bệnh viện 108, một bác sỹ phải trực cho nhiều khoa. Vì vậy đòi hỏi kiến thức nội khoa phải rộng để đảm bảo cho các kíp trực. Để vững vàng khi trực khối chung, tôi quyết định học Chuyên khoa 1 Nội chung trong 2 năm. Sau đó, năm 1995-1997, tôi học Thạc sĩ Thần kinh, may mắn được học những người thầy uyên bác như Giáo sư Hồ Hữu Lương, Giáo sư Nguyễn Xuân Thản. Khi làm luận văn, tôi chọn mảng Nhồi máu não (Đột quỵ). Với đề tài này tôi được các Giáo sư Phạm Tử Dương, Phó Giáo sư - Tiến sỹ Chu Hoàng Vân đã động viên tôi nghiên cứu về mạch máu não – điểm giao thoa giữa Tim mạch và Thần kinh.
Nhờ có khả năng học ngoại ngữ, tôi học tiếng Pháp cấp tốc để đủ tiêu chuẩn đi Pháp thực tập ở khoa Thần kinh khi đang làm nghiên cứu sinh. Sang Pháp, tôi thấy quy trình việc siêu âm, chụp mạch não ở đó là thường quy, trong khi ở Việt Nam lấy số liệu còn khó khăn do chưa có đầy đủ trang thiết bị.. chưa kể tất cả các bệnh nhân đột quỵ ở Pháp đều được theo dõi chẩn đoán các yếu tố nguy cơ đột quỵ từ sớm, điều trị dự phòng tái phát, phục hồi chức năng hạn chế tối đa di chứng tàn phế. Tôi nhận ra một điều cốt lõi: "Không phải bệnh nhân chạy theo bác sĩ, mà chính bác sĩ phải dõi theo người bệnh". Chính vì vậy, bệnh nhân ra viện không có nghĩa là hết trách nhiệm.
Về nước, tôi và các đồng nghiệp đã áp dụng quy trình như bên Pháp. Tôi quy định bác sĩ phải cho số điện thoại, dặn dò bệnh nhân điều trị dự phòng tái phát. Tôi đi xuống các trung tâm y tế quận Hoàn Kiếm, giảng bài cho các cụ già khỏe mạnh về dự phòng đột quỵ. Có những người bệnh vào viện rất sớm trong "giờ vàng", họ nói với tôi: "Nếu mà tôi không được nghe cái cơn thiếu máu não thoáng qua nó viết tắt là TIA (tia), tôi không đọc cái 'tia' của cô thì tôi không đến viện với cô sớm như thế này".
Nhưng cũng có những ca bệnh làm tôi đau xót đến ám ảnh. Có một người đàn ông mới 45 tuổi, vợ mất sớm, một mình nuôi hai con học cấp 2. Anh hút thuốc lá rất nhiều, uống rượu và bị tăng huyết áp nhưng không chăm sóc sức khỏe. Hôm anh vào viện thì đã rất nặng, đồng tử giãn. Tôi không bao giờ quên được hình ảnh hai đứa con nhỏ quỳ ở phòng trực lúc nửa đêm, khóc với tôi: "Bác sĩ ơi cứu bố cháu vì mẹ cháu mất cách đây 2 năm rồi, bây giờ bố cháu chết thì cháu sẽ mồ côi". Nhưng tôi không thể làm gì được nữa. Lại có bệnh nhân ngang bướng bảo "Tôi bỏ vợ được chứ tôi không thể bỏ thuốc lá", để rồi đến lần thứ ba tái phát đột quỵ vào viện mới chắp tay: "Tôi lạy bác sĩ, tại tôi không nghe bác sĩ".
Đó là những tang thương, những mất mát khiến tôi càng tin rằng mình phải tuyên truyền, phải hướng dẫn người dân dự phòng bệnh tật.
Trong suốt hai năm đại dịch, tôi theo dõi sự sống và cái chết ở nhiều góc độ. Nhưng khi nhìn lại cuộc đời mình, tôi cũng thấy những khoảng lặng hy sinh mà mình phải chấp nhận.
Năm 1991, tôi sinh đứa con đầu lòng. Nhưng sau đó, vì phải dồn toàn lực vào học tập, trực đêm liên miên, làm nghiên cứu sinh, hoàn thành mọi số liệu để bảo vệ luận án Tiến sĩ, tôi đã không dám sinh con. Mãi đến năm 2001, trọn vẹn 10 năm sau tôi mới sinh bé thứ hai.
10 năm lỗi hẹn với thiên chức. Tôi phải cai sữa con từ sớm để đi trực. Các con lớn lên gắn bó và yêu bố nhiều hơn vì ban đêm tôi thường xuyên vắng nhà. Gia đình tôi hầu như không bao giờ có một kỳ nghỉ nào trọn vẹn, kể cả Tết, không có khái niệm đi chơi, ngoại trừ một chuyến đi Đà Nẵng duy nhất trước khi con đi học xa.
Ở khoa Đột quỵ, có thời kỳ tôi trực một ngày cách một ngày. Về đến nhà, mệt rã rời. Có hôm tôi buồn ngủ quá, mở cửa vào nhà mà quên chào mẹ chồng. Sáng hôm sau bà thông tin ngay: "Về là không chào bà". Từ đó, dù buồn ngủ díp mắt, tôi cũng phải học cách chào hỏi bà đủ vài câu rồi mới đi ngủ.
May mắn lớn nhất của tôi là có người chồng đồng hành và có tư tưởng rất hiện đại. Anh không gia trưởng, sẵn sàng san sẻ mọi gánh nặng gia đình để tôi yên tâm theo đuổi nghề.
Người ta thường nói môi trường quân đội khắc nghiệt với phụ nữ, nhưng từ khi ra trường và làm việc tại Bệnh viện TƯ 108, tôi nhận thấy đây là một môi trường rất bình đẳng, nơi phụ nữ có đầy đủ cơ hội để phát triển. Nơi khác thì tôi không rõ, nhưng với 108, dù là bệnh viện quân đội, cơ hội cho chị em và nam giới không hề có sự khác biệt. Không có ranh giới nào quy định "chỗ này chỉ dành cho nam hay nữ". Phụ nữ chúng tôi bây giờ đi Gìn giữ hòa bình cũng là nữ, tham gia tất cả các công việc khó khăn nhất cũng có nữ. Mọi người từng nói các khoa vất vả nhất là Gây mê hồi sức, Hồi sức tích cực và Trung tâm Đột quỵ có những giai đoạn đều là nữ. Ba người phụ nữ đứng đầu ba mặt trận sinh tử.
Trung tướng Nguyễn Hoàng Ngọc và tập thể Ban Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
Tôi luôn nói với các đồng nghiệp trẻ: "Không có giới hạn nào mặc định dành cho phụ nữ. Rào cản lớn nhất, nếu có, chính là những lo toan gia đình và việc ta không thể chiến thắng được sự e ngại của chính mình".
Khi khoác lên mình quân phục, tôi chấp hành kỷ luật thép của quân đội. Nhưng khi đứng trước bệnh nhân, không thể bắt bệnh nhân "phải thế này, phải thế kia" bằng mệnh lệnh quân đội. Với người bệnh, tôi là một bác sĩ với trái tim thấu hiểu và chia sẻ.
Nhìn thế hệ bác sĩ trẻ bây giờ có quá nhiều điều kiện như trang thiết bị hiện đại, ngoại ngữ… nhưng tôi luôn nhắc nhở họ về Y đức: "đừng vì làm được một kỹ thuật hiện đại mà mắc "bệnh sao" và luôn phải tôn trọng người đi trước" Bản thân tôi dù là chủ nhiệm khoa, vẫn tự tay rút dịch, lấy máu cho bệnh nhân khi cần thiết.
Sau tất cả những hào quang và giông bão, tôi hạnh phúc nhất khi được trở về làm một người bà ngoại. Cháu ngoại thường bảo: "Bà lên quân hàm gì về bà cũng phải bình sữa cho Mía, thay bỉm cho Mía". Đúng vậy, sau lớp áo blouse và quân phục xanh, tôi trân trọng nhất hình ảnh một nữ bác sĩ quân y, một người đàn bà đã dành trọn cuộc đời cho nơi mỏng manh nhất của con người.
Sắp tới ngày 8/3, nhìn lại chặng đường hơn 40 năm từ khi nhập ngũ, tôi thấy mình vẫn là cô bé 12 tuổi năm nào, luôn nhìn màu áo trắng với tất cả sự ngưỡng mộ và thành kính. Quân hàm Trung tướng là vinh quang, là trách nhiệm nhưng niềm hạnh phúc thực sự nằm ở hành lang bệnh viện, nơi tôi được trực tiếp thăm khám cho nhiều bệnh nhân.
"Phụ nữ mình bây giờ có cơ hội như nhau", tôi luôn tin như vậy. Chỉ cần bạn đủ khát khao, bạn sẽ thấy màu trắng của áo blouse chính là màu sắc đẹp nhất trên thế gian này.
Hành trình của tôi, từ cô bé bệnh nhân năm xưa đến vị tướng hôm nay, là một chuỗi những nỗ lực tự thân và sự ưu ái của định mệnh. Tôi luôn tâm niệm: Hãy làm nghề với tất cả sự tử tế, rồi nghề sẽ trả lại cho mình những trái ngọt vô giá. Hạnh phúc của tôi bây giờ, đơn giản là nhìn thấy các bệnh nhân trở lại cuộc sống và những thế hệ bác sĩ trẻ tiếp nối con đường của mình.
Tôi là Nguyễn Hoàng Ngọc, một bác sĩ nội thần kinh, một chuyên gia đột quỵ, một người lính. Và trên hết, là một người phụ nữ hạnh phúc vì được sống trọn vẹn với lý tưởng của mình.
Đăng nhập
Họ và tên
Mật khẩu
Xác nhận mật khẩu
Mã xác nhận
Đăng ký
Xin chào, !
Bạn đã đăng nhập với email:
Đăng xuất