Trong dòng chảy mạnh mẽ của công nghệ và trí tuệ nhân tạo, giáo dục nghệ thuật càng cần trở về với cội nguồn văn hóa để mở lối cho sáng tạo. Khi di sản bước vào học đường, được đánh thức bằng trải nghiệm, công nghệ và sự dẫn dắt của nghệ nhân, nghệ sĩ, truyền thống sẽ không chỉ được gìn giữ mà còn tiếp tục sinh thành những giá trị mới trong tâm hồn thế hệ trẻ.
Chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang mở ra những khả năng chưa từng có đối với sáng tạo nghệ thuật. Chỉ bằng một vài câu lệnh, người học có thể tạo hình ảnh, mô phỏng phong cách, phục dựng không gian văn hóa hoặc tiếp cận kho dữ liệu khổng lồ của nhân loại. Nhưng càng đứng trước một không gian sáng tạo rộng lớn, giáo dục càng phải trả lời một câu hỏi căn bản: Người học sẽ sáng tạo từ nền tảng nào và mang theo bản sắc gì?
Đó cũng là vấn đề trọng tâm được đặt ra tại Hội thảo khoa học quốc gia "Đổi mới giáo dục nghệ thuật ở Việt Nam: Phát triển năng lực sáng tạo, phát huy giá trị truyền thống và thích ứng chuyển đổi số", do Khoa Nghệ thuật, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức ngày 22/8.
Trong khuôn khổ chuỗi hoạt động kỷ niệm 25 năm thành lập Khoa Nghệ thuật, ngày 22/8/2026, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức Hội thảo Khoa học Quốc gia với chủ đề: “Đổi mới giáo dục nghệ thuật ở Việt Nam: Phát triển năng lực sáng tạo, phát huy giá trị truyền thống và thích ứng chuyển đổi số”. Ảnh: THANH TÙNG - TTXVN
Với 76 báo cáo được tuyển chọn từ các nhà khoa học, giảng viên và giáo viên nghệ thuật trên cả nước, hội thảo không chỉ phản ánh nhu cầu đổi mới đang hiện hữu trong từng cơ sở đào tạo, từng cấp học, mà còn cho thấy giáo dục nghệ thuật cần được nhìn nhận bằng một cách tiếp cận có tính hệ thống.
Bởi giáo dục nghệ thuật không đơn thuần là dạy người học vẽ một bức tranh, hát một bài hát hay sử dụng thành thạo một công cụ sáng tạo. Sâu xa hơn, đó là quá trình nuôi dưỡng năng lực cảm thụ, trí tưởng tượng, khả năng biểu đạt và sự tinh tế trong tâm hồn. Nghệ thuật giúp con người biết rung động trước cái đẹp, biết tôn trọng sự khác biệt và biết nhìn thế giới bằng ánh mắt nhân văn.
Giữa dòng chảy của nhịp sống hiện đại, hát Xoan vẫn ngân vang trong không gian học đường Phú Thọ, trở thành nhịp cầu nối quá khứ với hiện tại. Từ lớp học, sân trường đến các câu lạc bộ, di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại đang đến gần hơn với thế hệ trẻ một cách tự nhiên, giàu sức lan tỏa. Đến nay, hát Xoan đã trở thành một phần bền vững trong đời sống giáo dục tỉnh Phú Thọ, khi 100% trường tiểu học và trung học cơ sở đã đưa nội dung này vào chương trình giáo dục địa phương. Toàn tỉnh hiện duy trì hàng chục câu lạc bộ hát Xoan cấp trường, thu hút đông đảo học sinh tham gia, tạo nên những không gian sinh hoạt văn hóa đậm sắc màu Đất Tổ, nơi di sản được “sống” cùng tuổi thơ học trò. Không chỉ dừng ở không gian học đường, Phú Thọ thúc đẩy số hóa di sản hát Xoan, xây dựng kho dữ liệu điện tử và hệ thống bài giảng số, mở rộng cách tiếp cận trong thời đại công nghệ, góp phần để những câu Xoan cổ tiếp tục ngân vang trong đời sống hôm nay và mai sau. Ảnh: HOÀNG HÙNG - TTXVN
Trong kỷ nguyên số, vai trò ấy càng trở nên quan trọng. Khi các sản phẩm, xu hướng và phương thức biểu đạt nghệ thuật liên tục dịch chuyển trên môi trường mạng, người học có thể dễ dàng tiếp cận nhiều nền văn hóa, nhưng cũng có nguy cơ bị cuốn vào những trào lưu nhất thời, những khuôn mẫu được tạo ra và lặp lại bởi thuật toán. Nếu thiếu một nền tảng văn hóa đủ sâu, sự phong phú của công nghệ có thể không dẫn tới sáng tạo mà chỉ tạo ra những sản phẩm vay mượn, pha trộn và thiếu căn cước.
Vì thế, đổi mới giáo dục nghệ thuật trước hết không phải là cuộc chạy đua về thiết bị hay phần mềm. Đó phải là quá trình đưa các giá trị nghệ thuật truyền thống vào nhà trường một cách bài bản, phù hợp với từng cấp học; đồng thời kết nối người học với nghệ nhân, nghệ sĩ, không gian di sản và cộng đồng thực hành văn hóa.
Các chủ trương mới về phát triển văn hóa và giáo dục đang mở ra điều kiện thuận lợi cho quá trình ấy khi tiếp tục xác định con người và văn hóa là trung tâm, khuyến khích sự tham gia của nghệ nhân, nghệ sĩ, chuyên gia vào hoạt động giáo dục. Đây là cơ sở quan trọng để từng bước hình thành một mô hình giáo dục mở, trong đó nhà trường không đứng tách biệt mà trở thành một phần của đời sống văn hóa cộng đồng.
Tuy nhiên, từ chủ trương đến thực tiễn vẫn còn một khoảng cách đáng kể. Theo TS Trần Thị Thu Hà, Trưởng khoa Nghệ thuật, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, việc đưa di sản nghệ thuật vào trường học hiện còn phân mảnh, phần lớn dừng ở những chương trình trải nghiệm đơn lẻ. Nhiều hoạt động mới giúp học sinh "xem" hoặc "biết" về di sản, nhưng chưa tạo điều kiện để các em thực hành, đối thoại và sáng tạo cùng di sản.
Tỉnh An Giang có hệ thống di tích và nhiều lễ hội truyền thống. Đây là “chìa khóa vàng” để phát triển du lịch văn hóa. Thời gian qua, tỉnh đã số hóa di sản, tạo nên một hệ sinh thái du lịch đa diện, tạo điều kiện để phát triển du lịch và thuận lợi cho việc tìm hiểu thông tin về di tích cho du khách. Ảnh: CÔNG MẠO - TTXVN
Khoảng trống ấy còn hiện rõ trong điều kiện giảng dạy. Khảo sát 50 giáo viên Mỹ thuật tại một số địa phương cho thấy, dù tất cả giáo viên đều được đào tạo đúng chuyên môn, có tới 82% phải kiêm nhiệm công việc ngoài ngành và 80% phải đảm nhận thêm việc trang trí sân khấu, thiết kế hình ảnh cho các sự kiện của trường. Có 84% trường thiếu phòng học chuyên biệt, 68% học sinh thiếu họa phẩm do hoàn cảnh khó khăn, trong khi quan niệm coi Mỹ thuật là "môn phụ" vẫn tồn tại ở một bộ phận phụ huynh.
Những con số ấy cho thấy một nghịch lý: chúng ta kỳ vọng giáo dục nghệ thuật phát triển năng lực sáng tạo, nhưng người dạy lại thiếu thời gian chuyên môn, người học thiếu điều kiện thực hành và môn học chưa được nhìn nhận đúng vị trí.
Chuyển đổi số trong giáo dục nghệ thuật không thể chỉ được đo bằng số lượng thiết bị hay phần mềm được sử dụng. Công nghệ và AI cần đóng vai trò mở rộng không gian trải nghiệm, hỗ trợ sáng tạo; còn di sản văn hóa phải là nền tảng giúp người học nhận diện căn cước, nuôi dưỡng cảm xúc và hình thành bản lĩnh văn hóa.
Trong hoàn cảnh đó, chuyển đổi số không thể được đo bằng số thiết bị, phần mềm hay những bài trình chiếu xuất hiện trong lớp học. Nếu phương pháp dạy học không thay đổi, điều kiện thực hành không được cải thiện và năng lực giáo viên chưa được bồi dưỡng, công nghệ rất dễ chỉ trở thành một lớp vỏ mới phủ lên cách dạy cũ.
Nguyên tắc "công nghệ là phương tiện, di sản là nội dung cốt lõi" vì thế mang ý nghĩa định hướng quan trọng. Công nghệ có thể mở rộng lớp học, đưa học sinh đến gần hơn với những công trình, hiện vật và loại hình nghệ thuật mà điều kiện địa lý không cho phép tiếp cận trực tiếp. AI có thể hỗ trợ tìm kiếm dữ liệu, nhận diện tạo hình, phục dựng hình ảnh, mô phỏng phong cách và khơi gợi ý tưởng. Nhưng công nghệ không thể thay thế trải nghiệm sống, sự truyền nghề và chiều sâu văn hóa được hình thành qua tiếp xúc giữa con người với con người.
Thành phố Hồ Chí Minh đang triển khai chiến lược xoay trục toàn diện hệ thống thiết chế bảo tàng. Từ bỏ tư duy “khép kín” của những kho lưu trữ truyền thống, “siêu đô thị” phương Nam đang hướng tới kiến tạo một “hệ sinh thái di sản sống” gắn với công nghệ số, biến tài nguyên ký ức thành động lực mũi nhọn thúc đẩy nền kinh tế sáng tạo và công nghiệp văn hóa phát triển bền vững. Ảnh: HỮU DUYÊN - TTXVN
Một học sinh có thể dùng AI để mô phỏng hoa văn truyền thống, nhưng để hiểu hoa văn ấy sinh ra từ cộng đồng nào, gắn với tín ngưỡng, phong tục và quan niệm thẩm mỹ ra sao, các em vẫn cần sự hướng dẫn của giáo viên, nghệ nhân và người nắm giữ di sản. Nếu tách biểu tượng khỏi bối cảnh văn hóa, công nghệ có thể tạo ra những hình ảnh đẹp về thị giác nhưng sai lệch về ý nghĩa.
Vấn đề, do đó, không phải lựa chọn giữa công nghệ và truyền thống, mà là xác lập đúng vai trò của mỗi yếu tố. Truyền thống không phải chiếc neo giữ con người ở lại quá khứ; đó là điểm tựa để sáng tạo và đi xa hơn. Công nghệ cũng không phải đích đến; đó là đôi cánh giúp những giá trị văn hóa được tiếp cận, thể hiện và lan tỏa bằng ngôn ngữ mới.
Giáo dục nghệ thuật chỉ có thể đổi mới thực chất khi hình thành được sự kết nối bền vững giữa nhà trường, giáo viên, nghệ nhân, nghệ sĩ và cộng đồng. Di sản cần được tích hợp bài bản vào chương trình, gắn với thực hành và trải nghiệm trực tiếp, để truyền thống không chỉ được gìn giữ mà còn trở thành nguồn cảm hứng cho sáng tạo trong thời đại số.
Mô hình đồng sáng tạo giữa con người và AI được đề xuất tại hội thảo - từ khám phá di sản, thực hành truyền thống, thử nghiệm với AI đến đánh giá, sáng tạo lại, phản biện và công bố - là một gợi mở đáng chú ý. Ở đó, con người vẫn giữ vai trò trung tâm; dữ liệu phải được kiểm chứng; công cụ cần được sử dụng minh bạch; bản quyền phải được tôn trọng; thực hành thủ công và trải nghiệm trực tiếp vẫn cần được duy trì.
Để những định hướng ấy đi vào đời sống, giáo dục nghệ thuật cần một hệ sinh thái đồng bộ. Di sản phải được tích hợp phù hợp vào chương trình thay vì chỉ xuất hiện trong các hoạt động ngoại khóa. Giáo viên phải được bảo đảm điều kiện làm nghề, được bồi dưỡng cả về công nghệ, phương pháp sáng tạo và kiến thức văn hóa. Nghệ nhân, nghệ sĩ cần có cơ chế tham gia lâu dài, không chỉ xuất hiện trong những sự kiện mang tính trình diễn. Nhà trường phải được kết nối với bảo tàng, nhà hát, làng nghề, không gian sáng tạo và cộng đồng thực hành di sản.
Trong định hướng phát triển công nghiệp văn hóa gắn với du lịch theo Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị, các mô hình trải nghiệm di sản đang mở ra cách tiếp cận mới, đưa nghề truyền thống đến gần hơn với công chúng, đặc biệt là người trẻ và du khách quốc tế. Hành trình “Theo dấu sơn ta” diễn ra trong khuôn khổ chuỗi sự kiện “Chạm nghề phố cổ 2026”, không chỉ tái hiện không gian nghề sơn với những giá trị thủ công đặc trưng, chương trình còn tạo cơ hội để người tham gia trực tiếp quan sát, tương tác và trải nghiệm chế tác. Ảnh: PHẠM ANH TUẤN - TTXVN
Quan trọng không kém là thay đổi nhận thức về vị trí của giáo dục nghệ thuật. Một nền giáo dục chỉ chú trọng truyền đạt kiến thức mà xem nhẹ khả năng cảm thụ, trí tưởng tượng và năng lực sáng tạo sẽ khó đào tạo nên những con người phát triển toàn diện. Trong thời đại mà máy móc ngày càng có thể đảm nhiệm nhiều thao tác kỹ thuật, những phẩm chất thuộc về con người - cảm xúc, lòng trắc ẩn, bản lĩnh văn hóa và khả năng tạo nên cái mới - càng trở nên quý giá.
Đổi mới giáo dục nghệ thuật, bởi vậy, không phải câu chuyện riêng của một môn học. Đó là sự chuẩn bị cho tương lai con người Việt Nam: có khả năng làm chủ công nghệ nhưng không bị công nghệ dẫn dắt; sẵn sàng hội nhập nhưng không hòa tan; biết trân trọng di sản và đủ tự tin để làm mới di sản bằng ngôn ngữ của thời đại.
Khi mỗi người học biết mình đến từ đâu, công nghệ sẽ không làm bản sắc phai nhạt mà có thể giúp bản sắc được cất lên bằng những hình thức mới. Và khi truyền thống trở thành nguồn năng lượng cho sáng tạo, giáo dục nghệ thuật sẽ thực sự góp phần xây dựng những con người Việt Nam vừa giàu căn cước, vừa rộng mở trước tương lai.
Hướng tới Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam, đồng thời nhằm tôn vinh những giá trị lịch sử của cuộc cải cách thời Hoàng đế Minh Mạng, ngày 11/4, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế phối hợp với Trường Trung học phổ thông Hai Bà Trưng và Trường Trung học phổ thông Nguyễn Huệ tổ chức chương trình Giáo dục di sản với chủ đề “Cải cách của Hoàng đế Minh Mạng”.
Trong khi nhiều di tích loay hoay tìm cách phát huy giá trị di sản thì tại Hà Nội, nhiều di tích đang thực hiện có hiệu quả việc này thông qua chương trình giáo dục di sản. Không chỉ lan tỏa những giá trị của di sản đến nhiều người, đặc biệt là học sinh, sinh viên, mà thông qua đó, còn khơi gợi tình yêu lịch sử đối với thế hệ trẻ. Hiện tại, nhiều di tích tại Hà Nội đang đẩy mạnh giáo dục di sản cho học sinh, sinh viên với những cách làm sáng tạo.
Ngày 1/11, Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức điểm cho học sinh tham quan học tập và trải nghiệm di sản văn hóa tại thành phố Việt Trì với nội dung “Giáo dục di sản gắn với Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương”.
Đăng nhập
Họ và tên
Mật khẩu
Xác nhận mật khẩu
Mã xác nhận
Đăng ký
Xin chào, !
Bạn đã đăng nhập với email:
Đăng xuất