Với hơn 1.350 làng nghề và làng có nghề, Hà Nội sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa đặc sắc để phát triển du lịch và công nghiệp sáng tạo. Nhưng để di sản thực sự trở thành động lực kinh tế, các làng nghề cần đổi mới thiết kế, nâng chất lượng trải nghiệm, mở rộng thị trường và bảo đảm cộng đồng được hưởng lợi từ chính những giá trị mình gìn giữ.
Đằng sau mỗi sản phẩm thủ công là câu chuyện về bàn tay người thợ, kỹ thuật được truyền qua nhiều thế hệ và bản sắc của một vùng đất. Từ những mẻ gốm Bát Tràng, tấm lụa Vạn Phúc đến sản phẩm khảm trai Chuyên Mỹ hay điêu khắc gỗ Sơn Đồng, làng nghề Hà Nội không chỉ lưu giữ ký ức văn hóa mà còn chứa đựng tiềm năng kinh tế lớn.
Kỹ thuật tạo hình tinh xảo trên gốm, thể hiện sự tài hoa của nghệ nhân làng gốm Bát Tràng.Ảnh: Phan Phương - TTXVN
Tính đến tháng 3/2026, Hà Nội có hơn 1.350 làng nghề và làng có nghề; trong đó, 337 làng nghề, làng nghề truyền thống và nghề truyền thống được công nhận, gồm 269 làng nghề, 61 làng nghề truyền thống và 7 nghề truyền thống.
Bà Nghiêm Thị Hoàng Anh, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp Hà Nội, Sở Tài chính Hà Nội, cho rằng những giá trị văn hóa tích lũy qua nhiều thế hệ chính là nguồn lực quan trọng để làng nghề Thủ đô phát triển trong bối cảnh mới.
"Không chỉ tiềm năng ở số lượng lớn làng nghề, những hàm lượng văn hóa có tuổi đời nghìn năm, tinh hoa của các sản phẩm tạo nên sức hấp dẫn riêng có của làng nghề Hà Nội, đồng thời là nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch văn hóa, thiết kế sáng tạo và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao", bà Hoàng Anh nhấn mạnh.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ và nhu cầu thị trường không ngừng thay đổi, bài toán đặt ra không chỉ là giữ nghề mà còn phải duy trì sức sống của nghề trong đời sống đương đại.
Các nghệ nhân, chuyên gia văn hóa, du lịch tại hội nghị đối thoại kết nối di sản, kiến tạo giá trị tinh hoa làng nghề Hà Nội hôm 12/10 tại làng nghề Bát Tràng. Ảnh: Minh Hằng - TTXVN
Bà Hoàng Anh nêu rõ: "Đó là làm thế nào để bảo tồn những giá trị cốt lõi mà không làm mất đi sức sống của nghề; làm thế nào để sản phẩm truyền thống đáp ứng thị hiếu đương đại mà vẫn giữ được bản sắc; làm thế nào để di sản không chỉ được lưu giữ trong ký ức hay không gian trưng bày, mà thực sự trở thành nguồn lực tạo ra sinh kế, việc làm, thu nhập và cơ hội phát triển bền vững cho người dân".
Những yêu cầu ấy đang được phản ánh rõ trong nỗ lực đổi mới của các làng nghề, từ xây dựng không gian văn hóa, phát triển du lịch đến cải tiến thiết kế và mở rộng thị trường.
Với nghệ nhân Hà Thị Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và Làng nghề Hà Nội, phát triển Bát Tràng không chỉ là quảng bá sản phẩm gốm mà còn là kể lại câu chuyện về lịch sử, văn hóa và con người của làng.
Bà cho biết cộng đồng đang xây dựng ý tưởng mô hình bảo tàng mở, bảo tàng sống, nơi du khách có thể khám phá di sản ngay trong không gian sinh hoạt của làng cổ.
"Chúng tôi sẽ xây dựng các không gian trải nghiệm, mỗi không gian là một câu chuyện riêng", bà Vinh chia sẻ.
Những câu chuyện dự kiến được tái hiện bao gồm truyền thống học hành, khoa bảng của người Bát Tràng, đời sống làng nghề qua các giai đoạn lịch sử, quá trình người dân duy trì nghề trong thời kỳ khó khăn và sự phát triển của các cơ sở sản xuất.
"Không gian trải nghiệm còn có thể giới thiệu tri thức ẩm thực, bếp truyền thống và hoạt động truyền nghề. Nghệ nhân không chỉ trình diễn kỹ thuật mà còn trực tiếp kể chuyện, hướng dẫn và giao lưu với du khách."
Bà Hà Thị Vinh, Nghệ nhân Bát Tràng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và Làng nghề Hà Nội, là một trong những người dành nhiều tâm huyết cho việc bảo tồn và phát triển làng nghề theo hướng bền vững, gắn giá trị truyền thống với yêu cầu của đời sống hiện đại. Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+
Một hướng đi được quan tâm là phát triển kinh tế đêm, tạo điều kiện để khách tham gia những hoạt động phù hợp như tìm hiểu quy trình làm gốm, khám phá văn hóa địa phương và trải nghiệm đời sống nghề nghiệp.
Theo bà Vinh, đề án bảo tàng sống đã được thành phố chấp thuận về chủ trương, đang chờ các bước hoàn thiện, phê duyệt tiếp theo và cần kết nối với quy hoạch chung của trục cảnh quan sông Hồng.
Thực tế, Bát Tràng từng thử nghiệm các tour du lịch nhưng chưa đạt kỳ vọng. Theo bà Vinh, nguyên nhân một phần do cộng đồng khi ấy chủ yếu tập trung vào sản xuất, chưa chú trọng kể những câu chuyện văn hóa phía sau sản phẩm.
Bài học đặt ra là một làng nghề muốn phát triển du lịch cần vượt ra ngoài hoạt động tham quan, mua sắm để tạo nên những trải nghiệm có chiều sâu. Khi du khách hiểu câu chuyện của sản phẩm và người làm ra nó, giá trị văn hóa có thể trở thành lợi thế cạnh tranh, đồng thời mở thêm nguồn thu cho cộng đồng.
Di sản lâu đời không đồng nghĩa sản phẩm có thể giữ nguyên hình thức và công năng qua mọi thời kỳ.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Mai Anh, nguyên Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp, cho rằng thiết kế giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của làng nghề.
Theo bà, người làm nghề cần nắm bắt nhu cầu thị trường và xu hướng tiêu dùng trong nước, quốc tế để điều chỉnh sản phẩm phù hợp với đời sống hiện đại.
Người dân Sơn Đồng gìn giữ nghề chạm khắc tạc tượng truyền thống. Ảnh: Phương Anh-TTXVN
Đổi mới không có nghĩa là loại bỏ truyền thống, mà là kế thừa những giá trị cốt lõi, đồng thời cải tiến hình thức, công năng và mẫu mã để sản phẩm đáp ứng nhu cầu mới.
Để làm được điều đó, nghệ nhân cần phối hợp với nhà thiết kế, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Kinh nghiệm của người thợ phải kết hợp với kiến thức chuyên môn, nghiên cứu thị trường và khả năng tổ chức sản xuất.
Nghệ nhân Vũ Văn Vịnh với 40 năm gắn bó với nghề, vẫn đam mê tạo ra những tác phẩm khảm trai sơn mài và giữ ngọn lửa nghề cho quê hương tại làng nghề khảm trai, sơn mài Chuyên Mỹ. Ảnh: Tuyết Mai - TTXVN
Với nghề khảm trai Chuyên Mỹ, nghệ nhân Vũ Văn Đình nhấn mạnh chất lượng sản phẩm là nền tảng của sự phát triển. Bên cạnh đó, các cơ sở cần tăng cường liên kết từ sản xuất, thiết kế đến phát triển thị trường để tạo ra sản phẩm phù hợp và duy trì đơn hàng ổn định.
Ông cũng cho rằng chính sách hỗ trợ cần đến được với người thợ, nhất là trong ứng dụng nền tảng số và mở rộng khả năng tiếp cận khách hàng.
Những ý kiến này cho thấy sức cạnh tranh của làng nghề không chỉ nằm ở kỹ thuật truyền thống, mà còn phụ thuộc vào khả năng đổi mới, tổ chức sản xuất và đưa sản phẩm đến đúng thị trường.
Theo ông Lê Hồng Thái, đại diện Tổng công ty Du lịch Hà Nội (Hanoitourist), muốn đưa làng nghề vào chương trình du lịch, điều quan trọng nhất là xây dựng được sản phẩm hoàn chỉnh.
Trước hết, cần tạo sự tương tác giữa du khách và nghệ nhân. Đồng thời, dịch vụ phải được chuẩn hóa về thời lượng, quy mô đoàn, nhân sự hướng dẫn, an toàn và điều kiện đón khách. Sản phẩm cũng cần có giá bán cụ thể, chương trình rõ ràng và phương án phối hợp với doanh nghiệp lữ hành.
Những yêu cầu này quyết định khả năng thương mại hóa một ý tưởng văn hóa. Một trải nghiệm hấp dẫn nhưng thiếu tổ chức sẽ khó duy trì chất lượng khi lượng khách tăng.
Từ góc nhìn của doanh nghiệp, du lịch làng nghề cần được xây dựng thành hành trình có câu chuyện và trải nghiệm khác biệt, thay vì chỉ dừng ở tham quan, mua sắm.
Du khách nước ngoài tham quan các sản phẩm tại gian trưng bày của làng lụa Vạn Phúc. Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN
Tuy nhiên, phát triển du lịch cũng cần gắn với lợi ích của cộng đồng.
Giáo sư, Tiến sĩ Từ Thị Loan, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển văn hóa Việt Nam, cho rằng cần có cơ chế hợp tác và chia sẻ lợi ích minh bạch giữa nghệ nhân, doanh nghiệp, nhà thiết kế và các chủ thể liên quan.
Cộng đồng phải được tham gia từ khâu xây dựng ý tưởng, thiết kế sản phẩm đến tổ chức sản xuất và khai thác thị trường. Các thỏa thuận cũng cần quy định rõ việc phân chia doanh thu, quyền lợi và trách nhiệm của từng bên.
Theo bà, nếu người dân không được tôn trọng hoặc không nhận được lợi ích tương xứng, họ sẽ thiếu động lực hợp tác. Vì vậy, chính quyền cần đóng vai trò điều phối, kết nối nguồn lực và xây dựng cơ chế để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, còn cộng đồng thực sự được thụ hưởng thành quả.
Trong giai đoạn 2026–2030, làng nghề Hà Nội đứng trước yêu cầu đồng thời bảo tồn kỹ thuật, đào tạo lực lượng kế nghiệp, cải thiện môi trường sản xuất, đổi mới thiết kế và mở rộng thị trường. Để đáp ứng những yêu cầu này, cần có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp, hiệp hội, nghệ nhân và cộng đồng làng nghề.
Nhiều du khách nước ngoài đến chụp ảnh check-in tại làng hường Quảng Phú Cầu. Ảnh: TTXVN
Theo bà Nghiêm Thị Hoàng Anh, bài toán phát triển làng nghề hiện nay đòi hỏi đổi mới cách tiếp cận, phương thức tổ chức và mô hình phát triển. Làng nghề không chỉ là nơi lưu giữ nghề truyền thống mà còn có thể trở thành không gian văn hóa sống, điểm đến du lịch và nền tảng hình thành các sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế cao.
"Vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ là chúng ta có bao nhiêu làng nghề, bao nhiêu sản phẩm truyền thống, mà quan trọng hơn là làm thế nào để mỗi làng nghề xác định rõ giá trị cốt lõi của mình; làm thế nào để câu chuyện văn hóa, lịch sử và con người của mỗi làng truyền tải kể một cách hấp dẫn, có sức lan tỏa; làm thế nào để những giá trị ấy được chuyển hóa thành sản phẩm sáng tạo, trải nghiệm du lịch, thương hiệu và cơ hội tiếp cận thị trường trong nước, quốc tế," bà Hoàng Anh nói.
Về vai trò của Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp Hà Nội, bà Hoàng Anh cho biết đơn vị mong muốn tiếp tục phát huy chức năng kết nối, hỗ trợ và đồng hành giữa các cấp chính quyền, chuyên gia, doanh nghiệp, hiệp hội, nghệ nhân và cộng đồng làng nghề; góp phần đưa chủ trương, chính sách của thành phố đến gần hơn với thực tiễn, đồng thời kết nối các sáng kiến, nguồn lực và cơ hội hợp tác.
Hà Nội đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành 10 tour hoặc tuyến du lịch làng nghề, trong đó có ít nhất 3 làng nghề gắn với du lịch, đồng thời đẩy mạnh số hóa với 300 sản phẩm. Riêng trong tháng 10 năm 2026, Hà Nội cũng đang hỗ trợ 84 làng nghề xây dựng thương hiệu và xác lập quyền sở hữu trí tuệ.
Đây có thể xem là những bước đi ban đầu thể hiện sự đồng hành của thành phố với các làng nghề Thủ đô, nhằm giúp các làng nghề phát triển mạnh mẽ hơn.
Để những định hướng này tạo ra hiệu quả thực chất, cần đánh giá không chỉ số lượng sản phẩm được số hóa hay thương hiệu được hỗ trợ, mà còn cả khả năng tiếp cận khách hàng, tăng doanh thu và cải thiện sinh kế của người làm nghề.
Du khách khi tới Bát Tràng sẽ được trải nghiệm các hoạt động như vuốt, nặn vẽ tạo hình các sản phẩm gốm Bát Tràng. Ảnh: TTXVN
Du Suy cho cùng, sức sống của làng nghề không chỉ nằm trong những sản phẩm được trưng bày hay các kỹ thuật được ghi chép, mà còn ở việc có người tiếp tục làm nghề, có thế hệ trẻ kế nghiệp và có thị trường để duy trì sản xuất.
Từ mô hình bảo tàng sống tại Bát Tràng, yêu cầu đổi mới thiết kế ở các làng nghề đến bài toán chuẩn hóa dịch vụ du lịch và chia sẻ lợi ích, các góc nhìn đều gặp nhau ở một điểm: bảo tồn phải gắn với phát triển, còn phát triển phải dựa trên bản sắc và quyền lợi của cộng đồng.
Với hơn 1.350 làng nghề và làng có nghề, Hà Nội có cơ hội lớn để đưa di sản trở thành nguồn lực của công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo. Nhưng để cơ hội ấy thành hiện thực, cần sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền, doanh nghiệp, chuyên gia và người làm nghề.
Đánh thức báu vật nghìn năm không phải là giữ quá khứ đứng yên, mà là tạo điều kiện để những giá trị truyền thống tiếp tục hiện diện trong đời sống hôm nay.
Đăng nhập
Họ và tên
Mật khẩu
Xác nhận mật khẩu
Mã xác nhận
Đăng ký
Xin chào, !
Bạn đã đăng nhập với email:
Đăng xuất