Là một di sản từng đứng bên bờ vực thất truyền sau nhiều thập niên bị lãng quên, ca trù đang bước vào một giai đoạn chuyển tiếp. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam mở ra một câu hỏi mà cả giới nghiên cứu lẫn những người nghệ nhân đang ngày đêm giữ lửa di sản vẫn đang đi tìm câu trả lời: liệu một nghệ thuật ngàn năm tuổi có thể trở thành nguồn lực thực sự trong nền kinh tế sáng tạo, hay sẽ mãi tồn tại như một di sản cần được bảo hộ?
Để hiểu ca trù đang đứng ở đâu hôm nay, cần nhìn lại nơi nó đã ngã xuống. Trong suốt nhiều thế kỷ, ca trù là đỉnh cao của đời sống thẩm mỹ người Việt: không gian diễn xướng của nó là đình làng trang trọng, phủ đệ uy nghi, cung đình lộng lẫy. Khán giả của nó là tầng lớp tao nhân mặc khách, những người đủ học vấn để hiểu thơ của Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Dương Khuê được diễn giải bằng âm thanh. Thưởng thức ca trù không phải bằng tiếng vỗ tay ồn ào mà bằng tiếng "chát" khẽ khàng của roi trống chầu, một ngôn ngữ giao tiếp riêng giữa người hát và người nghe.
Trong loại hình này, người ta không dùng tiền mặt để thưởng cho nghệ nhân mà dùng thẻ tre - một hình thức trả thù lao đã gần với phương Tây hiện đại hơn bất kỳ ai nghĩ tới.
Mỗi khi một ca nương hát hay, thẻ tre sẽ được rơi vào thau đồng và được đổi ra tiền thưởng. (Nguồn ảnh: Bảo Ngọc)
Giai đoạn giao thoa văn hóa dưới thời thuộc địa đã tạo ra những biến đổi không thể kiểm soát, biến ca quán truyền thống nhầm lẫn với chốn tiêu khiển thế tục, để ranh giới dần dần bị xóa nhòa trong mắt xã hội. Hệ quả không dừng lại ở những lời đàm tiếu mà nó đi vào từng ngôi nhà của nghệ nhân, vào từng quyết định bỏ nghề đầy đắng cay. NSƯT Đỗ Quyên, người sau này trở thành Chủ nhiệm Giáo phường Ca trù Hải Phòng với 33 năm gắn bó, kể lại điều mà các thế hệ nghệ nhân trước chưa bao giờ dám nói thành lời.
Đó là sự im lặng của những người phải sống với ký ức về một thời hoàng kim mà không có ai để kể.
Khi đất nước bước vào thời kỳ Đổi mới cuối thập niên 1980, ca trù gần như đã trở thành một ký ức. Những nghệ nhân còn lại phần lớn đã ở tuổi bảy mươi, tám mươi, thậm chí chín mươi, mang theo kho tàng của ngàn năm nhưng không có ai hỏi đến. Ở Hà Nội, NSƯT Lê Thị Bạch Vân quyết định làm một việc mà ngay cả người thân cũng cho là điên rồ. Năm 1990, bà vận động thành lập Câu lạc bộ Ca trù Hà Nội - tổ chức nghề nghiệp ca trù đầu tiên của Việt Nam sau năm 1945, không bán vé, không kinh phí, không cơ chế hỗ trợ nào từ Nhà nước, chỉ mở cửa miễn phí cho tất cả mọi người để giữ lấy những tiếng đàn, tiếng phách còn sót lại trong ký ức các cụ nghệ nhân.
Ở Hải Phòng, cũng trong năm 1993, bà Đỗ Quyên lần đầu nghe ca trù tại Nhà hát lớn thành phố và bị cuốn vào thứ âm thanh mà bà không có từ nào để giải thích ngoài chữ "yêu". Rồi bà theo học các cụ nghệ nhân ròng rã bảy năm, trở thành đào nương chính gốc và gánh vác cả giáo phường qua nhiều thập niên tiếp theo bằng tiền túi và nhiệt huyết cá nhân. Mãi đến năm 2009, khi UNESCO chính thức ghi danh ca trù là Di sản Văn hóa Phi vật thể Cần được Bảo vệ Khẩn cấp, các cấp quản lý văn hóa mới thực sự bắt đầu chú ý.
Nghệ sĩ Ưu tú Đỗ Quyên - Chủ nhiệm Giáo phường Ca trù Hải Phòng. (Nguồn ảnh: Bảo Ngọc)
Nghệ nhân Ưu tú Tô Văn Tuyên - Chủ nhiệm Câu lạc bộ Ca trù Đông Môn, hậu duệ của cụ Tô Tiến người đầu tiên đưa ca trù về làng Đông Môn đặt vấn đề một cách thẳng thắn. Suốt hơn hai mươi năm gắn bó với cây đàn đáy, ông chứng kiến khoảng hai phần ba số người học cùng mình trong các lớp đào tạo bỏ cuộc không phải vì thiếu năng khiếu, mà vì ca trù chưa bao giờ được xã hội coi là một nghề.
Hơn mười lăm năm sau khi được UNESCO vinh danh, ca trù vẫn chưa có một chương trình đào tạo chính quy nào trong hệ thống giáo dục nghệ thuật Việt Nam, không có giáo trình chuẩn hóa, không có bằng cấp được công nhận, không có cơ chế đãi ngộ cho người hành nghề. Những người đang thực hành ca trù làm điều đó vì đam mê, vì trách nhiệm với tổ tiên, vì một thứ gì đó không tên mà họ không thể bỏ xuống chứ không phải vì nó nuôi sống được họ.
Đây chính là khoảng trống mà Nghị quyết 80-NQ/TW chạm vào khi xác định "đặt trọng tâm vào giáo dục và phát triển con người" là trục xuyên suốt của chấn hưng văn hóa. Bà Đỗ Quyên đã hiểu điều đó từ rất sớm khi năm 2016 đưa ca trù vào trường Tiểu học Nguyễn Công Trứ tại Hải Phòng, và NSƯT Lê Thị Bạch Vân nhìn thấy nó từ tầm nhìn xa hơn:
Một sáng Chủ nhật ở Bích Câu Đạo Quán, Hà Nội. Mạc Trang Nhung - 22 tuổi, sinh viên năm cuối ngành Truyền thông - ngồi thẳng lưng trên chiếu, hai tay cầm đôi phách, cố giữ nhịp theo hướng dẫn của Nghệ nhân Ưu tú Vân Mai. Đây là buổi học thứ tư của cô, và cô vẫn tập tành gõ một khổ phách hoàn chỉnh.
Trang Nhung (bên phải) đang được NSƯT Vân Mai (bên trái) dạy gõ phách. (Nguồn ảnh: dự án Tiếng Ca Nhịp Phách)
Cô biết đến ca trù qua một video ngắn trên mạng xã hội, rồi tìm đến Bích Câu Đạo Quán vì tò mò. Cô không học ca trù để trở thành nghệ nhân, không có ý định theo nghề. Nhưng cô học đều đặn mỗi tuần, vì theo cô, đây là lần đầu tiên cô cảm thấy mình đang chạm vào một thứ gì đó thực sự bác học, thâm sâu. Câu chuyện của Nhung không điển hình, phần lớn người trẻ đến thử rồi không quay lại, nhưng nó chỉ ra một điều: ca trù không phải hoàn toàn vô hình với thế hệ số, miễn là có con đường để họ tiếp cận. Và đó chính là nơi số hóa di sản bắt đầu có ý nghĩa thực tiễn.
Nghị quyết 80-NQ/TW định hướng: "Phát triển công nghiệp văn hóa để văn hóa vừa là nền tảng tinh thần, vừa là nguồn lực kinh tế, vừa là sức mạnh mềm của quốc gia... Phải thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa phát triển theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số để tạo động lực bứt phá..."
Câu lạc bộ Ca trù Bích Câu Đạo Quán là một trong những ví dụ điển hình về mô hình vận hành có chiều sâu. Từ năm 2008, Nghệ nhân Ưu tú Vân Mai mở lớp dạy ca trù miễn phí mỗi sáng Chủ nhật, đến nay quy tụ hơn 30 ca nương từ 9 đến 70 tuổi. Các buổi biểu diễn định kỳ được tổ chức bài bản với không gian chỉn chu, catalog giới thiệu tư liệu và tương tác trực tiếp với khán giả. Song song đó, website catrubichcau.com được xây dựng để lưu trữ tư liệu về nghệ nhân, thể cách và các bản ca trù - một kho số hóa nhỏ nhưng đủ để những ai muốn tìm hiểu có chỗ bắt đầu.
Các học viên thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau cùng ngồi học trong lớp ca trù miễn phí tổ chức mỗi sáng Chủ nhật tại Câu lạc bộ Ca trù Bích Câu Đạo Quán (Hà Nội), do Nghệ nhân Ưu tú Vân Mai trực tiếp hướng dẫn (Nguồn ảnh: Bảo Ngọc)
Tại Hải Phòng, Giáo phường Ca trù của bà Đỗ Quyên bắt tay với các tour du lịch để đưa ca trù vào lịch trình tham quan đình Hàng Kênh . Vào mỗi thứ Bảy, khách trong và ngoài nước ghé thăm khu di tích lịch sử cấp quốc gia này có thể bước vào nhà Giải Vũ để nghe tiếng phách và tiếng đàn đáy vang lên trong không gian trầm mặc của lịch sử.
Tại đình Hàng Kênh (Phường Lê Chân, Hải Phòng), tiếng phách và tiếng đàn đáy vẫn đều đặn vang lên, đón tiếp du khách trong và ngoài nước. (Nguồn ảnh: nhân vật cung cấp)
Câu lạc bộ Đông Môn của nghệ nhân Tô Văn Tuyên thì chọn hướng khác: nhà hàng Đồng Cau với kiến trúc nhà vườn Bắc Bộ trở thành sân khấu thường xuyên mỗi tối thứ Sáu, nơi thực khách vừa ăn vừa nghe ca trù, khách du lịch nước ngoài lần đầu tiếp xúc với một không gian âm nhạc hoàn toàn xa lạ với bất cứ thứ gì họ từng biết. Và trong im lặng của không gian ấy, thứ gì đó kỳ lạ xảy ra.
Các thành viên Câu lạc bộ Ca trù Đông Môn biểu diễn trên sập trong không gian nhà vườn Bắc Bộ tại nhà hàng Đồng Cau (Hải Phòng). (Nguồn ảnh: nhân vật cung cấp)
Thế hệ trẻ cũng đang tìm cách tiếp cận di sản này theo ngôn ngữ của riêng họ - những sáng kiến số hóa di sản ngày càng đa dạng hơn. Dự án truyền thông "Văn Nghệ Tân Quan" của sinh viên Khoa Truyền thông, Trường Đại học Đại Nam đã giới thiệu trải nghiệm "Bảo tàng Ca trù số" bằng công nghệ thực tế ảo, mang đến góc nhìn trực quan về không gian diễn xướng cho công chúng chưa từng tiếp cận. Dự án "Tiếng Ca Nhịp Phách" của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền đưa những tiếng đàn đáy, tiếng phách đặc trưng vào series podcast "Giải mã Thanh âm Ca trù", tiếp cận khán giả trẻ qua nền tảng kỹ thuật số.
Các liên hoan ca trù được tổ chức định kỳ, tiêu biểu như kỳ liên hoan năm 2025 quy tụ hơn 20 câu lạc bộ với trên 100 nghệ nhân và thí sinh tham gia, không chỉ tạo không gian trình diễn mà còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng lớp nghệ nhân trẻ.
Các nghệ nhân biểu diễn Ca trù tại Liên hoan Ca trù Hà Nội 2025. (Nguồn ảnh: internet)
Tuy nhiên, chính những người trong cuộc là người sớm nhất nhận ra giới hạn của các thử nghiệm này. Ca trù không phải loại hình có thể mở rộng quy mô theo logic thị trường đại chúng, đây là điều căn bản cần được chính sách thừa nhận.
"Ca trù cầu kỳ quá: phải trải chiếu, trải thảm, kê sập cho người ngồi. Rồi khán giả lại không được vỗ tay, phải im lặng thưởng thức. Nó không tiếp cận, không thích ứng được với môi trường sinh hoạt hiện nay - đang tạo ra khoảng cách." - Nghệ nhân Ưu tú Tô Văn Tuyên
Đây không phải là nhược điểm cần khắc phục, mà là đặc tính cốt lõi của ca trù. Bản chất "bác học" và đặc thù thẩm mỹ của nó là không vỗ tay ồn ào, thưởng thức bằng tiếng "chát" của trống chầu, tặng thẻ tre thay vì tiền mặt. Đó là những gì phân biệt loại hình này với mọi hình thức giải trí khác.
Ở góc độ hoạch định chính sách, PGS. TS. Bùi Hoài Sơn - Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Giáo dục Quốc hội cho rằng, sự tham gia của giới trẻ đang mở ra một hướng đi mới cho các di sản truyền thống, trong đó có ca trù. Theo ông, với tư duy sáng tạo và khả năng thích ứng nhanh với công nghệ, người trẻ không chỉ tiếp cận di sản theo cách thụ động mà đang chủ động “dịch” di sản sang ngôn ngữ của thời đại số.
Quan điểm ấy cũng cho thấy một khả năng khác của ca trù trong tương lai: giá trị của di sản không chỉ nằm ở việc lưu giữ nguyên trạng, mà còn ở khả năng tiếp tục được kể lại bằng những hình thức mới. Từ podcast, bảo tàng số, video ngắn cho tới các mô hình biểu diễn kết hợp du lịch văn hóa, ca trù đang dần xuất hiện trong đời sống đương đại theo cách mềm mại hơn, gần gũi hơn với công chúng trẻ. Và có lẽ, đó cũng là con đường để một loại hình nghệ thuật từng chỉ tồn tại trên chiếu hát bước vào hệ sinh thái công nghiệp văn hóa mà vẫn giữ được bản sắc riêng của mình.
Trong không gian nhà Giải Vũ cạnh đình Hàng Kênh, tiếng phách vẫn vang lên mỗi thứ Bảy. Ở làng Đông Môn, tiếng đàn đáy của nghệ nhân Tô Văn Tuyên vẫn cất lên mỗi tối thứ Sáu. Tại Bích Câu Đạo Quán, những ca nương từ chín đến bảy mươi tuổi vẫn đến học mỗi sáng Chủ nhật. Đó là những ngọn lửa không thể phủ nhận nhưng cũng là những ngọn lửa đang cần được bảo vệ bằng một hệ thống, chứ không chỉ bằng nhiệt huyết. Phép thử thực sự của Nghị quyết 80 với ca trù không nằm ở hội nghị hay văn bản, mà ở một câu hỏi giản dị: mười năm nữa, tiếng đàn đáy và tiếng phách có còn vang lên không - không phải như hiện vật trong viện bảo tàng, mà như một thực hành sống trong lòng xã hội Việt Nam? Ca trù đã từng vượt qua qua giai đoạn khó khăn, qua đứt gãy lịch sử, qua sự thờ ơ của nhiều thế hệ nhờ con người. Và giờ đây, hành trình từ chiếu hát đến thị trường sáng tạo, nếu có thể xảy ra, cũng chỉ có thể bắt đầu từ con người - những người được đào tạo bài bản, được đãi ngộ xứng đáng, và được trao cho một hệ thống xứng đáng với di sản mà họ đang gánh.
Tối 24/1/2026, tại Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội, Nhóm Đông Kinh Cổ Nhạc tổ chức biểu diễn âm nhạc truyền thống với chủ đề "Nhạc Ta Nhà Phố".
Làng Đông Môn, phường Hòa Bình là cái nôi của ca trù (hay còn gọi là hát ả đào, hát ca quán…) khu vực phía Bắc. Trải qua những thăng trầm, ca trù Đông Môn vẫn là mạch nguồn sâu lắng, nuôi dưỡng, trao truyền qua bao thế hệ và trở thành "nhịp phách, nhịp đàn" trong dòng chảy văn hóa của thành phố và đất nước.
Sáng 27/9, tại Bảo tàng Hà Nội, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội tổ chức Liên hoan Ca trù Hà Nội lần thứ IV năm 2025. Sự kiện nhằm tiếp tục bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ca trù - loại hình nghệ thuật đã được UNESCO ghi danh cần bảo vệ khẩn cấp từ năm 2009.
Đăng nhập
Họ và tên
Mật khẩu
Xác nhận mật khẩu
Mã xác nhận
Đăng ký
Xin chào, !
Bạn đã đăng nhập với email:
Đăng xuất